Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Góp nhặt và Chia sẻ 4

COMPENSATION, BENEFIT - LƯƠNG, THƯỞNG ĐÃI NGỘ, KẾ TOÁN LƯƠNG

Những câu chuyện về những con số và giai thoại :D

1. Tiếp cận một hệ thống tiền lương hiệu quả
Tiền lương là mối quan tâm hàng đầu và là động lực làm việc của người lao động. Do vậy, xây dựng một hệ thống tiền lương khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kích thích năng suất lao động luôn là nhiệm vụ lớn đối với Lãnh đạo doanh nghiệp. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường lao động khan hiếm người làm được việc như hiện nay.

Người lao động mong muốn điều gì ?

Người lao động muốn được trả lương đúng với tính chất công việc. Họ muốn được tăng lương theo kết quả công việc và nỗ lực của mình. Họ muốn được trả lương công bằng trên cơ sở so sánh với những lao động khác trong tổ chức và với vị trí tương tự trên thị trường lao động. Và cuối cùng họ muốn việc trả lương phải nhất quán, minh bạch và rõ ràng.

Ai cũng muốn lương cao, càng cao càng tốt. Tuy nhiên, mục đích của hệ thống tiền lương không hẳn phải là trả lương cao nhất mà là đạt được sự hài lòng của người lao động với những mong muốn của họ nêu trên.

Doanh nghiệp cần làm gì ?

Bước đầu tiên, chúng ta cần xác định chính xác những công việc thực tế người lao động phải làm, kết quả của bước này chính là Bản Mô tả công việc. Đây là cơ sở để chúng ta tuyển dụng, giao việc, so sánh các các loại lao động và đánh giá kết quả công việc của nhân viên.

Bước tiếp theo, chúng ta cần đánh giá và so sánh các công việc trong tổ chức, tức là quan hệ lao động trong nội bộ doanh nghiệp. Có nhiều phương pháp để thực hiện điều này. Nhưng được áp dụng phổ biến nhất đó là phương pháp Chấm điểm theo yếu tố lao động – Point Factor Method (đã giới thiệu ở những Thư tư vấn trước). Đầu ra của bước này là một thang, bảng phân hạng các chức danh công việc. Theo đó, các công việc có cùng giá trị (cùng một khoảng điểm) sẽ được xếp vào cùng một nhóm lương.

Hệ thống tiền lương hiệu quả

Tham khảo và so sánh với mức lương trên thị trường lao động đối với từng nhóm chức danh là bước kế tiếp. Xác định được mức lương tiệm cận và phù hợp với mặt bằng thị trường lao động là mục tiêu của bước này. Chúng ta không nhất thiết phải là người trả lương cao nhất nhưng cũng không nên là người trả giá quá thấp. Thông thường, nếu loại lao động không phải quá đặc thù thì mức trung bình là hợp lý và hiệu quả. Đây không phải là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, do vậy, chúng ta chỉ cần xác định một miền (min -max) tiền lương xung quanh điểm trung bình đó.

Sẽ là rất chưa đủ nếu chúng ta không gắn tiền lương với kết quả hoàn thành công việc của nhân viên. Việc cần làm ở bước này là thiết lập các tiêu chí đánh giá kết quả làm việc của nhân viên, thường gắn với mô tả công việc. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định tăng tiền lương. Người lao động được tăng lương khi hoàn thành tốt nhiệm vụ và góp phần vào thành công của doanh nghiệp. Người hoàn thành ở mức xuất sắc được tăng lương nhiều, hoàn thành ở mức thấp hơn, tăng ít hơn.

Điều cuối cùng chúng ta cần làm là tuyên truyền, phổ biến và áp dụng một cách nhất quán để đảm bảo rằng người lao động hiểu và họ cảm thấy được đối xử công bằng, ít nhất là trong việc trả lương, điều mà họ quan tâm nhất. Bằng cách liên tục xem xét và điều chỉnh cho phù hợp theo những nguyên tắc trên, chúng ta sẽ có được sự cống hiến hết mình của nhân viên, kích thích được lòng đam mê và động lực làm việc của họ nhằm hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp.


Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/tiep-can-mot-he-thong-tien-luong-hieu-qua-79817/

2. Kỹ thuật xây dựng thang lương 
Thiết kế và áp dụng thang lương là nhiệm vụ cơ bản của quản trị nhân sự. Có nhiều doanh nghiệp hiện nay không xây dựng thang lương mà trả theo thỏa thuận từng lần với từng người. Hoặc thang lương được áp dụng hay chỉnh sửa từ quy định của Nhà nước. Có rất nhiều bất cập trong thực hiện chính sách tiền lương từ việc áp dụng như thế này, đặc biệt khi sử dụng nhiều lao động, có trình độ và đa dạng chuyên môn. Nhiều bạn làm nhân sự có hỏi về cách thiết kế thang lương. Trong phạm vi một thư tư vấn, chúng tôi chia sẻ khái quát về cách tiếp cận thiết kế một thang lương

Thang lương là gì?

Thang lương là hệ thống các nhóm lương/ngạch lương và các bậc lương được thiết kế làm cơ sở trả lương cho người lao động, đảm bảo công bằng, minh bạch và cạnh tranh. Bản chất thang lương hiểu đơn giản là một khung giá mua sức lao động của một tổ chức, doanh nghiệp.

Kết cấu của thang lương?

Kết cấu thang lương gồm trục dọc là các nhóm/ngạch lương và trục ngang là các bậc lương (hệ số hoặc mức tiền) tương ứng với từng nhóm/ ngạch lương. Số nhóm/ngạch nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng các chức danh và tính chất đa dạng của các chức danh công việc ấy trong tổ chức. Số bậc lương của mỗi ngạch phụ thuộc lớn vào độ rộng (Min-Max) của miền tiền lương chi trả một nhóm chức danh nào đó. Ví dụ: miền tiền lương mà doanh nghiệp sẵn sàng trả cho nghề kế toán là từ 3 triệu đến 7 triệu.

Thiết kế các nhóm/ngạch lương.

Thiết kế các nhóm/ngạch lương thực chất là đánh giá và xếp hạng các “giá trị công việc” thành các nhóm lương khác nhau, từ thấp đến cao. Không thể tùy tiện đưa ra các nhóm/ngạch lương chỉ dựa trên cảm tính, hoặc bằng cấp, thâm niên, tránh chỉ có duy nhất một ngạch lương cho tất cả các chức danh công việc. Một cách bài bản và có tính khoa học, chúng ta mô tả công việc cho từng chức danh rõ ràng. Sau đó, áp dụng phương pháp chấm điểm yếu tố để lượng hóa giá trị các công việc và so sánh các công việc đó với nhau. Cuối cùng, xếp hạng và phân thành các nhóm/ngạch lương nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các giá trị công việc.

Thiết kế bậc lương:

Số bậc lương và mức lương nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Độ rộng nhóm/ngạch lương (miến tiền lương): tức là mức thấp nhất và cao nhất mà doanh nghiệp có thể trả cho một ngạch lương nào đó, phù hợp với thị trường lao động và chiến lược thu hút của doanh nghiệp. Ví dụ: kế toán từ 3 triệu đến 7 triệu

Mức lương thực tế: mức lương thực tế của các chức danh hiện hưởng. Tránh hiện tượng trả quá cao hoặc quá thấp so với hiện tại, gây những bất ổn quá lớn về ngân sách và thu nhập (tức là đột biến), trừ khi mức hiện tại là rất không hợp lý. Nguyên tắc, đi từ thấp đến cao.

Mức tăng ở mỗi bậc lương: Nguyên tắc tăng có thể là lũy tiến hoặc lũy thoái. Tuy nhiên, mức tăng được khuyến cáo là không ít hơn 5% và không nên quá 20%. Vì nếu ít hơn 5% sẽ không khuyến khích được người lao động trong mỗi lần tăng lương. Ngược lại, tăng quá cao ở bậc liền kề sẽ sớm kịch trần ngạch lương và vượt ngân sách.

Vòng đời phát triển nghề nghiệp: số bậc lương nhiều hay ít cho một nhóm/ngạch lương phụ thuộc vào vòng đời phát triển nghề nghiệp từ lúc bắt đầu làm quen, học hỏi đến khi thành thạo trở thành chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn. Về nguyên tắc, lao động yêu cầu trình độ càng thấp thì số bậc lương càng nhiều bởi phần lớn người lao động sẽ gắn bó cả thời gian lao động với chức danh ấy mà ít có điều kiện để lên phân nhóm cao hơn, ví dụ công nhân.

Độ chồng giữa các nhóm/ngạch lương: lưu ý tính chất công việc của các chức danh. Có những nhóm độ chồng đến 70%-80% vì không có quá nhiều sự khác biệt về giá trị công việc. Ví dụ: bậc 1 của nhóm trên tương đương bậc 3, bậc 4 của nhóm dưới. Tuy nhiên, sẽ có những nhóm độ gối đầu (độ chồng) là bằng 0 khi có những thay đổi đáng kể và khác biệt về giá trị công việc. Ví dụ. bậc 1 của nhóm quản lý cao hơn bậc lương cao nhất của nhân viên.

Lạm phát hàng năm: Hàng năm, thang lương cần được xem xét và điều chỉnh (nếu có thể) so với mức lạm phát để đảm bảo thu nhập thực tế của người lao động.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/ky-thuat-xay-dung-thang-luong-79818/

3.Hệ thống lương 3Ps và những điều cần biết 
Hệ thống tiền lương - tiền thưởng - phúc lợi áp dụng tại doanh nghiệp là một công cụ quan trọng mang tính chiến lược của quản trị nguồn nhân lực.
Một Phương pháp trả lương hiệu quả hiện nay được các công ty mạnh đang áp dụng rộng rãi (nhất là các công ty nước ngoài) đó chính là trả lương theo nguyên tắc 3Ps để có thể xây dựng bảng lương một cách hoàn chỉnh nhất


Vậy Trả lương theo phương pháp 3Ps là gì?

P1: Position: Định giá lương theo giá trị công việc - thông quá đánh giá vị trí công việc (position/job evaluation)

P2: Person skills: Định giá lương theo năng lực cá nhân - thông quá đánh giá năng lực nhân viên (person evaluation- ASK)

P3: Performance: Định giá lương theo hiệu quả công việc- thông qua đánh giá thành tích và hiệu quả công việc.

Làm được 3P cần có sự cam kết của lãnh đạo, cần có sự đồng thuận nhất trí của các Trưởng đơn vị, và sự thấu hiểu cũng như ủng hộ của NLĐ và sự kiên trì của người chủ trì, người này cần có khả năng chịu áp lực cao


P1 – Pay for Position: Sản phẩm của P1 chính là xác định được giá trị của từng công việc trong hệ thống của DN => xác định dải lương cho mỗi công việc (dựa trên lương tối thiểu, hệ số góc)
Để làm tốt được P1, thì điều quan trọng nhất (có thể coi là nền tảng để 3P có hiệu quả) đó là xây dựng được cơ cấu tổ chức của DN dẫn đến xác định hệ thống chức danh dẫn đến Xây dựng hệ thống bản mô tả công việc sẽ Đưa con người vào công việc đã được mô tả.


P2 – Pay for Person: Sản phẩm của P2 theo hiểu đó tiêu chuẩn về năng lực mà NLĐ đảm nhiệm vị trí đó cần có – Có thể gọi đây là Bộ từ điển năng lực của DN không nhỉ?
Ứng với mỗi vị trí đã xác định trong P1, ta đưa ra bảng ASK – Attitude – Skill – Knowledge (Thái độ – Kỹ năng – Kiến thức) tiêu chuẩn mà một người đảm nhiệm vị trí công việc đó cần có


P3 – Pay for Performance: Sản phẩm của P3 là những bản thiết lập mục tiêu (KPI) cho từng cá nhân theo SMART & Bản đánh giá kết quả thực hiện theo mục tiêu đã thiết lập
Mong rằng, một số thong tin ở trên có thể giúp đỡ phần nào về việc trả lương cho nhân viên trong doanh nghiệp của bạn. 

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/he-thong-luong-3ps-va-nhung-dieu-can-biet-80643/

4. Các cách tính, hình thức trả lương trong công ty 
Tiền lương là khoản tiền mà Doanh nghiệp trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Nhưng cần phải đảm bảo không được thấp hơn mức lương tối thiểu.cách tính lương hàng tháng cho nhân viên

1. Hình thức trả lương theo thời gian:

Lương theo thời gian là việc tính trả lương cho nhân viên theo thời gian làm việc, có thể là theo tháng, theo ngày, theo giờ.

Thực tế trong các Doanh nghiệp vẫn tồn tại 2 các tính lương như sau:

Hình thức 1:

Lương tháng = Lương + Phụ cấp (nếu có) / ngày công chuẩn của tháng X số ngày làm việc thực tế

Theo cách này lương tháng thường là con số cố định, chỉ giảm xuống khi người lao động nghỉ không hưởng lương. Cách tính thường là Lương tháng - lương tháng / ngày công chuẩn của tháng X số ngày nghỉ không lương. Với hình thức trả lương này người lao động không hề boăn khoăn về mức thu nhập cuả mình trong mỗi tháng bởi số tiền trừ cho mỗi ngày công không lương là cố định, nghỉ bao nhiêu ngày thi họ bị trừ bấy nhiêu tiền trong trường hợp không có biến động về lương và ngược lại tháng nào làm đi làm đủ ngày theo quy định thì hưởng đủ mức tiền lương.

(Ngày công chuẩn của tháng là ngày làm việc trong tháng, không bao gồm các ngày nghỉ ví dụ như công ty quy định được nghỉ chủ nhật)

Hình thức 2:
Lương tháng = Lương + Phụ cấp (nếu có) / 26 X ngày công thực tế làm việc
(Doanh nghiệp tự quy định 26 hay 24 ngày)

Theo cách này lương tháng không là con số cố định vì ngày công chuẩn hàng tháng khác nhau, Vì có tháng 28, 30, 31 ngày => có tháng công chuẩn là 24 ngày, có tháng là 26 và cũng có tháng là 27 ngày. Với hình thức trả lương này khi nghỉ không hưởng lương người lao động cần cân nhắc nên nghỉ tháng nào để làm sao thu nhập của họ ít ảnh hưởng nhất, điều này có thể ảnh hưởng tới tình hình sản xuất cuả doanh nghiệp khi nhiều nhân viên cùng chọn nghỉ vào những tháng có ngày công chuẩn lớn nhằm giảm thiểu tiền công bị trừ.

( Con số 26 kia tưởng trừng như là cố định, nhưng thực tế lại làm lương của người lao động biến động)

Ví dụ: Tháng 10/2013 có 31 ngày: 4 ngày chủ nhật, 27 ngày đi làm, công ty trả lương cho NV A 4 Triệu đồng/ tháng, A đi làm đầy đủ (tức là 27 ngày)

- Nếu tính lương theo hình thức 1:
Lương tháng = 4.000.000/27 X 27 = 4.000.000
- Nếu tính lương theo hình thức 2: Doanh nghiệp quy định ngày công chuẩn là 26 ngày:
Lương của A: 4.000.000/26 X 27 = 4.153.846

Vẫn là A, Nhưng trong tháng 2/2013, có 28 ngày, 4 ngày chủ nhật, 24 ngày đi làm, A đi làm đầy đủ.
Lương của A = 4.000.000/26 x 24 = 3.692.307
=> Vậy là trong tháng 2, A đi làm đâỳ đủ nhưng lương mức nhận được lại không đầy đủ.

Hai cách tính lương này sẽ cho ra 2 kết quả khác nhau. Việc tính lương theo cách nào Doanh nghiệp sẽ thể hiện trên hợp đồng lao động hay trong quy chế lương thưởng của công ty.

Lưu ý: Luật quy định kỷ luật đi trễ về sớm bằng các hình thức như sau: khiển trách, nhắc nhở (miệng hoặc văn bản). Công ty không được dùng phương pháp trừ lương hoặc phạt về mặt vật chất của người lao động. Chi tiết mời các bạn xem tại đây: Không được phạt tiền trừ lương nhân viên đi muộn về sớm

2. Hình thức trả lương theo sản phẩm

Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tính trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc công việc đă hoàn thành. Đây là hình thức trả lương gắn chặt năng suất lao động với thù lao lao động, có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động góp phần tăng sản phẩm.

Lương sản phẩm = Sản lượng sản phẩm X Đơn giá sản phẩm

3. Hình thức trả lương LƯƠNG KHOÁN:

Là hình thức trả lương khi người lao động hoàn thành một khối lượng công việc theo đúng chất lượng được giao.

Lương = Mức lương khoán X Tỷ lệ % hoàn thành công việc

4. LƯƠNG /THƯỞNG THEO DOANH THU:

là hình thức trả lương/thưởng mà thu nhập người lao động phụ thuộc vào doanh số đạt được theo mục tiêu doanh số và chính sách lương/thưởng doanh số của công ty.
Thường áp dụng cho nhân viên kinh doanh, nhân viên bán hàng... Hưởng lương theo doanh thu

Các hình thức lương/thưởng theo doanh thu:
- Lương/thưởng doanh số cá nhân
- Lương/thưởng doanh số nhóm
- Các hình thức thưởng kinh doanh khác: công nợ, phát triển thị trường,… 

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/cac-cach-tinh-hinh-thuc-tra-luong-trong-cong-ty-86278/

5. 5 sai lỗi cần tránh trong cải tiến tiền lương


Thay đổi chính sách tiền lương có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, lợi ích và quan hệ của mọi người lao động. Do tính nhạy cảm và ảnh hưởng rộng như vậy nên việc cải tiến cần thực hiện hết sức thận trọng, hài hòa lợi ích, bài bản, quyết liệt và đi đến tận cùng vấn đề. Có như vậy, việc cải tiến mới đạt được mục đích là xác lập lại ”sự công bằng”, đảm bảo “tính cạnh tranh” và “tính tường minh” trong tiền lương.
Dưới đây là một số sai lỗi cần tránh trước và trong quá trình cải tiến tiền lương:

1. Không rõ hiện trạng và mục tiêu cải tiến

Nhiều doanh nghiệp than phiền tiến hành cải tiến chính sách lương nhiều lần nhưng chả đi đến đâu, không ban hành được, thậm chí sau một hồi tranh cãi lại quay về như cũ. Tại sao lại như vây? Nguyên nhân ở đây là các vấn đề bị nhận diện chủ quan, phiến diện. Mục đích, mục tiêu, trọng tâm cải tiến được xác định không trúng và không đúng điều mà cả người lao động và sử dụng lao động mong muốn. Việc nhận diện thực trạng mới chỉ ở góc độ chủ quan, cảm tính ở một vài cá nhân, mà thiếu sự khảo sát, phân tích một cách toàn diện, khoa học. Chính vì thế, phương án đưa ra không giải quyết toàn diện được các vấn đề tồn tại, mâu thuẫn, trên cơ sở những tiêu chí và luận cứ xác đáng.

Khuyến nghị ở đây là trước khi cải tiến, chúng ta cần tiến hành khảo sát, đánh giá một cách toàn diện các vấn đề tồn tại, bất cập trong chính sách trả lương hiện hành. Những bất đồng, mâu thuẫn và mong muốn từ các bên (người lao động và sử dụng lao đông); các cấp (quản lý và nhân viên); các phía (bộ phận/phòng ban) được lắng nghe, nhận diện đầy đủ. Từ đó, định hướng và mục tiêu cải tiến được xác định và thảo luận thống nhất như một “đầu bài rõ ràng và cụ thể” cho việc cải tiến.

2. Quá chú trọng vào học thuật

Việc cải tiến tiền lương trong nhiều trường hợp rơi vào tình trạng dở dang, đầu voi đuôi chuột hoặc nghe thì hay nhưng không áp dụng được vào thực tế. Vì sao vậy? doanh nghiệp quá chú trọng và tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để tìm kiếm các mô hình này, phương pháp kỹ thuật kia, tập huấn, đào tạo liên miên v.v.. nhưng lại không nghiên cứu kỹ và vận dụng sát với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp.

Bản chất vấn đề cải tiến là thiết lập lại mức và cách chi trả tiền lương - cho giá cả của sức lao động. Do đó, điều kiện then chốt ở đây là cần hiểu đúng về thực tế công việc kinh doanh và mối quan tâm, nguyện vọng của người lao động và sử dụng lao động. Từ đó, đưa ra các biện pháp cải tiến cụ thể, hài hòa lợi ích và quan trọng là được người lao động ủng hộ. Các kỹ thuật và phương pháp chỉ giúp cho ta có cách tiếp cận logic về vấn đề cần giải quyết chứ không giải quyết được mọi vấn đề thực tiễn. Hết sức tránh coi phương pháp này, mô hình kia là “chiếc đũa thần” để giải quyết mọi vấn đề của quản lý.

3. Không cam kết và quyết tâm đi đến tận cùng vấn đề

Nhiều bộ phận nhân sự than phiền về sự dở dang của việc cải tiến tiền lương tại doanh nghiệp mình. Họ cho rằng lãnh đạo và nhóm cải tiến mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, thuyết trình phương pháp và làm ví dụ. Việc giao cho họ triển khai áp dụng mô hình, phương pháp đó vào thực tiễn trả lương là làm khó họ và rằng nhóm cải tiến chưa làm tròn trách nhiệm.

Cải tiến tiền lương là vấn đề nhạy cảm vì nó động chạm đến lợi ích của tất cả người lao động trong doanh nghiệp. Do đó, nhóm cải tiến cần phải cam kết và theo đến tận cùng vấn đề cho đến khi mục tiêu dự án đạt được. Cụ thể, nhóm cải tiến cần phải nghiên cứu để hiểu và đánh giá được từng chức danh công việc, đưa ra và phân tích ưu nhược điểm của các phương án khác nhau cho từng vấn đề như: bao nhiêu nhóm lương? Bậc lương? Mức lương bao nhiêu là hợp lý? Giãn cách và mối quan hệ tương quan giữa các chức danh? Xếp lương cho từng người thế nào? Ai giảm? Ai tăng? Vì sao và giải pháp để xử lý hài hòa lợi ích….v..v ..cho đến khi chính sách tiền lương được ban hành và nhận được sự ủng hộ của tập thể người lao động.

4. Kỳ vọng quá nhiều vào việc cải tiến

Nhiều lãnh đạo kỳ vọng và coi việc cải tiến tiền lương là “chiếc đũa thần”, là “phương thuốc bách bệnh” cho các vấn đề quản lý. Ví dụ như mong muốn qua đó sẽ phải tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc một cách rõ rệt. Quan điểm đó gây áp lực rất lớn đến bộ phận nhân sự và đội ngũ quản lý cấp trung, dẫn đến việc không dám đề xuất và triển khai cải tiến quyết liệt, do sợ thất bại, né tránh trách nhiệm v..v.

Có một quy luật ”Lương thấp, năng suất giảm – Lương cao, năng suất chưa chắc tăng”. Việc đòi hỏi tăng lương là phải tăng năng suất mà thiếu đi các biện pháp khác như cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, kỷ luật lao động v..v là điều bất hợp lý. Lưu ý rằng điều quan trọng nhất của cải tiến tiền lương là thiết lập lại sự hợp lý và công bằng trong việc trả lương. Từ đó, để tiền lương phát huy vai trò “thu hút, gìn giữ và phát huy” nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng năng suất lao động...

5. Ngại va chạm, thiếu quyết đoán – Đẽo cày giữa đường

Việc cải tiến tiền lương kéo dài, gây tranh cãi, tâm lý chán nản do không có người đủ thẩm quyền, chịu trách nhiệm điều hòa, xử lý và ra các quyết định trong những thời điểm quan trọng. Vì sao vậy? Nguyên nhân ở đây là lãnh đạo không theo sát quá trình cải tiến hoặc biết nhưng không dám đối mặt với thực tế, ngại va chạm, sợ dư luận, sợ sai, sợ mất uy tín, v..v. dẫn đến tâm lý cầu toàn, dân chủ thái quá, dĩ hòa vi quý, trì hoãn, kéo dài. Điều đó dẫn đến tính hiệu quả và hiệu lực của chính sách mới không thể trở thành hiện thực.

Nhóm cải tiến cần xác định rõ những tác động tích cực và tiêu cực từ chính sách cải tiến là gì? Nhóm lao động nào được thụ hưởng? nhóm lao động nào bị tổn thương? Ngân sách có chịu được không? v..v. Từ đó, tham mưu lãnh đạo các phương án cho từng vấn đề thấu tình đạt lý. Đồng thời thực hiện các biện pháp vận động hành lang, tuyên truyền, phổ biến, tranh thủ sự đồng tình của các nhóm lao động, công đoàn. Không bao giờ có chuyện 100% người lao động hài lòng về tiền lương. Ai đó ví von “Tiền lương cũng là tấm chăn hẹp”, thế nên điều quan trọng là cần xác định đúng và lập luận, tuyên truyền đúng về sự thay đổi cần có trong chính sách tiền lương.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/5-sai-loi-can-tranh-trong-cai-tien-tien-luong-79816/

6. Chính sách đãi ngộ nhân sự với sự thành công của doanh nghiệp 
Hiện nay, với một số công ty lớn, việc trả lương mỗi tháng đã trở nên quá bình thường đối với mọi nhân viên nên để giữ chân những nhân viên giỏi cũng như tạo nên sự hứng khởi, nhiệt tình trong làm việc của toàn bộ nhân viên thì những chính sách đãi ngộ đã được đặc biệt quan tâm và chú ý.

1. Chính sách đãi ngộ nhân sự là gì?
Chính sách đãi ngộ là quá trình công ty, doanh nghiệp quan tâm, chăm sóc đối với cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của toàn bộ nhân viên, từ đó, khiến họ cảm thấy hứng thú để có thể hoàn thành công việc được giao một cách hiệu quả, bằng 100% năng lực của họ.

Chính sách đãi ngộ mang lại cho doanh nghiệp 2 lợi ích chính.

Một là lợi ích cơ bản mà chúng ta ai cũng có thể thấy được, đó là khiến nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu của Doanh Nghiệp đặt ra. Đãi ngộ nhân sự giúp đạt được mục tiêu của Doanh Nghiệp thông qua lao động có hiệu quả của đội ngũ nhân viên.

Lợi ích thứ 2 là lợi ích sâu xa hơn, đó là tạo nên một môi trường làm việc hấp dẫn, tạo nên sự thu hút đối với các nhân viên giỏi, giàu kinh nghiệm ở trong và ngoài công ty.
Hơn nữa, nhân viên trong bất cứ tổ chức nào cũng mong muốn có được môi trường làm việc thuận lợi, có cơ hội học tập, thăng tiến và có mức lương cao phù hợp với năng lực làm việc. Mặt khác hệ thống đãi ngộ cũng đòi hỏi phải cân bằng, đảm bảo lợi ích của người lao động và của Doanh Nghiệp.



2. Vai trò của chính sách đãi ngộ nhân sự

Hệ thống đãi ngộ hiệu quả sẽ là sự kết dính giữa con người và tổ chức, là kim chỉ nam của ban lãnh đạo. Nhờ đó Doanh Nghiệp có sự ổn định về nhân sự để đạt được mục tiêu đặt ra, người lao động tìm thấy niềm vui, hạnh phúc và sự đam mê trong công việc, làm việc hết lòng vì tổ chức.

Chính sách đãi ngộ nhân sự tạo điều kiện để nhân viên nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, từ đó tác động tạo nên sự hứng khởi, thoải mái, khiến nhân viên phát huy được toàn bộ 100% năng lực của mình.

Chính sách đãi ngộ là điều kiện đủ để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh Nghiệp. Đãi ngộ nhân sự góp phần duy trì nguồn nhân sự ổn định, có chất lượng cho Doanh Nghiệp. Đãi ngộ nhân sự giúp nâng cao hiệu quả các chức năng quản trị nhân sự khác trong Doanh Nghiệp.

Chính sách đãi ngộ nhân sự trong Doanh Nghiệp sẽ giúp Doanh nghiêp duy trì được nguồn nhân lực ổn định và có chất lượng cho xã hội.  

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f560/chinh-sach-dai-ngo-nhan-su-voi-su-thanh-cong-cua-doanh-nghiep-80543/

7.Nhân tài vẫn ra đi nhiều trong các công ty lớn
Được làm việc trong những công ty lớn, doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng là niềm mơ ước của tất cả mọi người, nhất là với những người yêu thích công việc và có năng lực phát triển chuyên môn của mình. Tuy nhiên, thực tế cũng rất thường xảy ra tình trạng người tài "đến rồi đi", ở ngay các công ty lớn.



1. Quy định rườm rà

Đây là lý do hàng đầu khiến các công ty mất nhân tài. Không ai thích các quy định rườm rà, được ban ra mà không có một lý do chính đáng nào cả. Những quy định "vô duyên" này khiến nhân viên giỏi chán nản khi họ bị buộc phải tuân theo. Kết quả là họ sẽ rời bỏ công ty khi không thể chịu đựng thêm được nữa.

2. Thiếu các dự án để giúp nhân tài thể hiện tài năng của họ

Các công ty lớn thường quá bận rộn với công việc kinh doanh nên sẽ chẳng có ai rảnh rang mà đi lòng vòng hỏi xem nhân viên cảm nhận thế nào về công việc và những dự án hiện tại, hay hỏi xem họ muốn làm gì mới hơn có lợi cho doanh nghiệp không.

Lãnh đạo nên biết tiền bạc và quyền lực sẽ không phải là những thứ các nhân viên tài quan tâm nhiều mà là ý nghĩ được là một phần của cái gì đó to lớn sẽ làm thay đổi thế giới. Tuy vậy, các doanh nghiệp lớn hầu như không bao giờ cho nhân tài cơ hội được nêu ra ý kiến của mình và "tỏa sáng" cả.

3. Bản đánh giá công việc sơ sài

Khi công ty không bỏ thời gian để "chau chuốt" bản đánh giá hiệu suất làm việc của nhân viên, nhân viên sẽ nghĩ rằng công ty không thật sự quan tâm tới sự hợp tác dài hạn với mình. Vì thế, khi thấy mình không được quan tâm chú ý, họ sẽ rời bỏ ngay.

4. Không thảo luận với nhân viên về sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai

Những nhân viên có tài thường rất thích thảo luận với sếp mình về tương lai. Nhưng các sếp lại thường không có hứng thú hay bỏ thời gian để nói chuyện với nhân viên về hoài bão nghề nghiệp tương lai của họ.

Phải để cho nhân viên biết là họ được quan tâm và con đường sự nghiệp của họ có nhiều cơ hội thì may ra công ty mới giữ được nhân tài.

5. Thiếu chiến lược lưu giữ nhân tài

Các nhân viên giỏi rất ghét một công việc dễ dàng, chỉ cần "ăn không ngồi rồi". Nên nếu có thể cho họ nhiều thách thức thường xuyên từ các dự án mới, công ty đã xây dựng được bốn bức tường xung quanh các nhân tài và giữ họ lại.

6. Không có niềm tin vào nhân viên

Khi giao cho nhân viên việc gì đó, lãnh đạo hãy chỉ đóng vai trò là quan sát viên và chỉ nên hỗ trợ hoặc cung cấp những tài nguyên khi cần thiết. Đừng có lúc nào cũng kè kè bên nhân viên, chỉ bảo từng ly từng tý. Làm thế nhân viên sẽ có cảm giác rằng họ không được tin tưởng và tài năng của họ sẽ không được phát huy tối đa.

7. Vấn đề về đồng nghiệp

Một trong những lời giải thích khi nhân viên bỏ việc là vì họ không thích đồng nghiệp của mình. Có những nhân viên đi làm nhưng lại chẳng đóng góp được bao nhiêu cho công ty, họ chỉ "há miệng chờ sung" hưởng lương hằng tháng. Những nhân viên dạng này là nguyên do làm cho các nhân viên giỏi khác cảm thấy rằng công sức của họ bỏ ra là để người khác hưởng. Nên muốn giữ được nhân viên giỏi thì phải cho họ làm cùng những nhân viên giỏi khác giống họ.

8. Sự phát triển của doanh nghiệp

Nhân tài sẽ có hứng thú và động lực ở lại làm việc hơn nếu họ thấy tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

9. Chế độ "độc tài"

Những nhân viên giỏi thường muốn đưa ra ý kiến khi không đồng tình và họ muốn ý kiến của mình được lắng nghe. Chẳng may, phần lớn các ông chủ thường không thích điều này. Đây là một trở ngại cho doanh nghiệp nếu họ chỉ thích những nhân viên lúc nào cũng chỉ biết "dạ dạ, vâng vâng".

Biết tiếp nhận ý kiến trái ngược của những nhân viên giỏi là một cách để cho họ biết rằng họ được trọng dụng, và nó cũng tốt cho bản thân doanh nghiệp nữa.

10. Vấn đề lãnh đạo

Nếu gần đây có quá nhiều người bỏ việc mà những người này lại cùng dưới quyền một lãnh đạo nào đó thì công ty phải xem xét lại vị lãnh đạo này. Tốt hơn hết là chuyển công tác cho lãnh đạo đó nếu thấy có nhiều nghi vấn xung quanh cách người này lãnh đạo. 

8. Nên Thưởng Thế Nào?
Việc đánh giá, xếp loại nhân viên không chỉ đơn thuần dựa vào mục tiêu và thành tích đạt được. Một hệ thống khen thưởng tối ưu cần đáp ứng các yếu tố bù đắp, phúc lợi, công nhận và tuyên dương nhân viên.

Một nhân viên mỗi ngày đều đi làm trễ 15 phút nhưng luôn đưa ra được lý do hợp lý. Người này thực sự có vấn đề về sức khỏe hay là… Một nhân viên khác nữa nhiều năm qua làm rất tốt một công việc, nhưng gần đây hiệu quả làm việc lại kém hơn trước. Có nên đưa người này đi đào tạo lại?



- Đánh giá, xếp loại…

Trên thực tế, đánh giá quá trình làm việc của nhân viên tại doanh nghiệp không chỉ đơn giản là đưa ra những nhận xét. Các chuyên gia về nhân sự cho rằng, để việc đánh giá nhân viên đạt hiệu quả thiết thực, nhà quản lý cần dự tính trước và xác định được giới hạn của phạm vi đánh giá, cũng như thiết lập môi trường làm việc phù hợp để thực hiện quá trình đánh giá.

Phần lớn các công ty đều sử dụng một hình thức đánh giá chung cho tất cả công việc trong nội bộ, nhà quản lý cần biết sử dụng những lời bình luận và giải thích để mở rộng việc đánh giá, nhằm thay đổi hình thức đánh giá theo từng công việc cụ thể.

Việc đánh giá nhân viên không chỉ dựa vào cấp quản lý trực tiếp mà cần tham khảo ý kiến từ tất cả những người có quan hệ với nhân viên, bao gồm cấp lãnh đạo, đồng nghiệp, khách hàng, đối tác và bản thân nhân viên tự đánh giá mình.

Quy trình đánh giá nhân viên được thực hiện theo bảng điểm, có nhân hệ số để tính lương, thưởng. Các tiêu chí đánh giá có thể thay đổi theo cấp độ nhân viên hay quản lý.

Chẳng hạn, nếu nhân viên chỉ được “chấm điểm” dựa trên tinh thần trách nhiệm, khả năng chuyên môn, các đề xuất cải tiến, kỹ năng giao tiếp thì cấp quản lý được xét thêm tiêu chí “năng lực quản lý và đào tạo nhân viên”.

Một người quản lý nếu không phát triển nhân viên mới, đào tạo được người thay thế mình thì dù điểm số thành tích có cao nhưng vẫn không đạt chuẩn xếp loại. Việc đánh giá nhân viên thực chất là tính theo năng lực và khả năng đóng góp cho công ty. Trong năm, nhân viên tham gia vào một dự án lớn hoặc làm nhiều dự án nhỏ thì ngoài các tiêu chí trên, nhân viên còn được xét đến năng lực thể hiện, khối lượng công việc, khả năng cống hiến, kỹ năng học hỏi từ công việc.

Việc đánh giá, xếp loại nhân viên không nên chỉ dựa vào mục tiêu, thành tích đạt được mà quan trọng hơn, cách đạt được mục tiêu đó. Vì thế, ngoài mục tiêu kinh doanh là điều kiện cần trong đánh giá-xếp loại lao động, nhân viên còn được xét đến các yếu tố khác như tinh thần phối hợp đội nhóm, kỹ năng thương thuyết, cách giải quyết vấn đề, xử lý khủng hoảng…

Cách đánh giá này quyết định mức lương của từng người, còn mức thưởng sẽ được xét trên thành quả của tập thể.

Quy trình đánh giá nhân viên được thực hiện theo các khoảng thời gian ba tháng, sáu tháng hoặc một năm. Hình thức đánh giá theo quí (ba tháng) có ưu điểm là: kịp thời động viên, khen thưởng hay uốn nắn, sửa chữa khuyết điểm cho nhân viên. Tuy nhiên, kiểu đánh giá này có thể không thích hợp với các công việc mang tính chất dự án dài hạn. Nhưng với cách đánh giá vào mỗi cuối năm, có khi lại tạo cho nhân viên tâm lý đối phó, chỉ chịu “cải thiện” lề lối làm việc vào giai đoạn trước kỳ đánh giá, sau đó có thể họ lại… “ngựa quen đường cũ”.

- Và khen thưởng

Sau quá trình đánh giá và xếp loại, việc khen thưởng không chỉ nhằm mục đích đem lại… giá trị vật chất cho nhân viên. Các chuyên gia về nhân sự cho rằng, một hệ thống khen thưởng tối ưu cần đáp ứng các yếu tố bù đắp, phúc lợi, công nhận và tuyên dương nhân viên.

Tiền bạc chưa hẳn là yếu tố chính tạo nên… xúc cảm cho nhân viên khi được khen thưởng. Quan trọng hơn, theo các chuyên gia về nhân sự, nhân viên cần được công nhận và đánh giá cao năng lực thể hiện, thành tích đạt được… tại doanh nghiệp như một sự biết ơn. Cách làm xem ra cũng không quá phức tạp: một bản nhận xét cá nhân được người quản lý gửi trực tiếp đến nhân viên; công khai cảm ơn nhân viên này trước các đồng nghiệp vì những hành động cụ thể đã làm, có tác động tích cực đến tổ chức…

Đừng quá nhấn mạnh đến yếu tố tiền bạc trong khen thưởng nhân viên, bởi công ty đã “tưởng thưởng” các giá trị khác cho nhân viên như môi trường làm việc, văn hóa công ty, các giá trị được chia sẻ, được trở thành đối tác của khách hàng…

Việc thưởng chỉ mang tính khuyến khích, bởi nhân viên sẽ biết ơn doanh nghiệp hơn vì các khoản lương lãnh hàng tháng.

Nguồn:  http://tailieunhansu.com/diendan/f560/nen-thuong-nao-80368/

9. Tại sao mức lương của các nhân viên luôn được giữ bí mật?
Các công ty hiện nay thông thường trả lương cho nhân viên qua tài khoản; nếu trả bằng tiền mặt cũng hạn chế tối đa việc để các nhân viên biết và tìm hiểu thông tin về lương thưởng của nhau. Tại sao tiền lương lại được giữ bí mật như tài liệu mật thế?

Tình huống 1:
Tình cờ một nhân viên làm việc lâu năm trong công ty biết được mức lương của một đồng nghiệp mới vào cao hơn cô. So về tuổi đời và kinh nghiệm, có lẽ nhân viên mới không thể bằng được nhân viên cũ này, nhưng do giá cả thị trường thay đổi lớn và có lẽ khả năng đàm phán của nhân viên mới tốt hơn nên đã có được mức lương cao hơn hẳn. Điều này gây nên tâm lý chán việc trong nhân viên cũ và cô có sự hằn học với nhân viên mới.
Kết quả là hai người khó mà hòa hợp, nhân viên cũ không giúp đỡ và chỉ bảo nhân viên mới đến nơi đến chốn, thái độ làm việc lạnh lùng và không hợp tác. Nhân viên mới cũng khó lòng mà làm việc hiệu quả và phải gồng mình lên để học hỏi, hòa nhập với môi trường mới. Bộ phận nhân sự đứng trước nguy cơ lại phải tuyển người vì xem chừng nhân viên mới đang chán nản và mệt mỏi vì bị đồng nghiệp chèn ép và cô lập; nhân viên cũ cũng nhăm nhe tìm công ty khác vì cô cảm thấy mình đang bị đối xử bất công.

Tình huống 2:
Hai người cùng vị trí và cùng thời điểm vào công ty, mức lương cũng bằng nhau vì cùng trình độ và kinh nghiệm. Sau một thời gian, mức lương của cả hai không còn như ban đầu nữa, một người cao và một người vẫn chỉ ở mức trung bình tuy cả hai không hề có sự thăng tiến về mặt vị trí.
Vốn thân thiết nên chuyện lương của họ dễ dàng được trao đổi. Ngay lập tức, người thấp hơn cảm thấy bất mãn và không hài lòng, tự nghĩ mình không làm gì kém hơn hay đóng góp ít hơn cho công ty mà lại có sự chênh lệch không thỏa đáng như thế. Người cao hơn bỗng nhiên có cảm giác e dè và “ngại” với đồng nghiệp vì mức lương cao hơn của mình, mặc dù hai người hàng ngày vẫn làm những công việc như nhau và có tầm quan trọng bằng nhau.
Tình cảm không còn thân thiết như xưa nữa, việc giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành công việc cũng không còn được gắn bó và hiệu quả. Vô hình chung năng suất làm việc kể từ khi có đợt xét tuyển lương mới có phần giảm sút.

***
Trong cả hai trường hợp, người quản lý hay bộ phận nhân sự đã không có sự giải thích thỏa đáng và công khai các chính sách cho nhân viên nên dẫn tới tình trạng “hiểu lầm” hay bất mãn trong công ty. Có những quy định rõ ràng về lương thưởng và điều chỉnh kịp thời mức lương của nhân viên, cả cũ và mới cho phù hợp với giá cả thị trường sẽ giúp tránh được những mâu thuẫn nội bộ và sự không hài lòng của nhân viên như thế này.
Tất nhiên thông tin về lương nên được càng bí mật càng tốt, nhưng doanh nghiệp không có gì để đảm bảo rằng thông tin sẽ không bao giờ bị rò rỉ ra bên ngoài, vậy thì hệ thống đãi ngộ và chăm sóc nhân viên tốt của bộ phận nhân sự sẽ giúp công ty giảm thiểu tối đa những thiệt hại về người và công việc.
Bởi vì lương là một vấn đề rất nhạy cảm, nó đánh vào nhu cầu và mục đích trực tiếp của người lao động. Do vậy, khi thông tin về lương bị rò rỉ và gây ra những mâu thuẫn nội bộ do mức lương của mọi người không bằng nhau, đối tượng thiệt thòi nhất chính là công ty hay doanh nghiệp, bởi một công ty có sự mâu thuẫn nội bộ thì sẽ khó lòng ổn định và vững mạnh về lâu dài.

Nguồnhttp://tailieunhansu.com/diendan/f560/tai-sao-muc-luong-cua-cac-nhan-vien-luon-duoc-giu-bi-mat-77402/

10. Làm nhân sự phải biết nhìn người
Trong cánh rừng bạt ngàn, không có hai lá nào giống hệt nhau, tương tự loài người cũng không có ai tình cảnh giống nhau hoàn toàn. Người khác nhau về tính tình, tính cách thích hợp với những công việc khác nhau. Kẻ dùng người tất phải nắm được những đặc điểm tính cách khác nhau của những người trong tay mình để đánh giá được tài năng của từng người. Vì mỗi người một khác nên phải lượng tài mà dùng.
1. Loại bình thường
Tấm lòng rộng thoáng, làm việc chắc chắn, chuyên tâm, không sao nhãng, thần kinh luôn trong trạng thái ổn định, không bị xúc động và có những hành vi khác thường. Biết tự chủ, trầm tĩnh, không bị thất bại và khó khăn, thích ứng nhanh, gần gũi với mọi người, năng động, bạn bè quý mến, đáng yêu, trân trọng.
2. Loại tự tư tự lợi (ích kỷ)
Có khuynh hướng mình là trung tâm, mong không làm cũng có hưởng, chuyên tính toán cho mình, không bao giờ chịu thiệt, thường coi thường người khác. Phần lớn những người này thuộc loại ích kỷ, nhưng sau được giáo dục và tác động của hoàn cảnh có thể dần dần chuyển sang ít nói.
3. Loại thâm trầm
Thường lặng lẽ, kín đáo, nhưng có tổ chức, có mưu lược, kiên nhẫn, biết giữ bí mật.
4. Loại thô sơ
Ngốc nghếch không có mưu lược, nói không biết lựa lời, gặp chuyện không biết suy nghỉ, phán đoán, hay phát biểu ý kiến trước tiên, dễ quên, hành động thô thiển.
5. Loại cuồng nhiệt (mạnh mẽ)
Quá nhiệt tình, mãnh liệt, dể phát điên lên vì một phong trào, một lý do nào đó, thường cực đoan, lạnh lùng, khốc liệt, chất chứa thù hận, có thể bỗng nhiên bùng phát, rơi vào điên cuồng, phẫn nộ. Sử dụng, giám sát thích đáng, nếu để những người này làm công việc tinh vi, phải có sự chú ý cao độ.
6. Loại học giỏi
Phần nhiều có chút tự kiêu, nói năng có lý có chừng mực, ung dung, tự tại.
7. Loại nông cạn
Ít trí tuệ, tự huyễn hoặc, hay khoe mình, hay phát biểu ý kiến, việc bé hay nói là rất có giá trị, không biết kiềm chế tình cảm, đặc điểm là nói năng lôi thôi, dây cà ra dây muống, làm người khác phát chán.
8. Loại cả nghĩ
Thường ở giai đoạn chung chiêng, lúc lạnh lúc nóng, lúc vui lúc buồn. Lúc hoạt bát thì vui vẻ xã giao, lạc quan chử chỉ phơi phới. Lúc âm thầm thì hoàn toàn ngượi lại, dể buồn chán, lo lắng, suy nghĩ, lười biếng, phản ứng lãnh đạm.
9. Loại ảo tưởng
Thường lẫn tránh hiện thực, thông thường trí lực khá cao, sức tưởng tưởng của người này nếu được dùng đúng lúc, đúng chổ, thì có thể rất sáng tạo.
10. Loại hay nghi ngờ
Có sức tưởng tượng cao độ, thiên về suy đoán, nghi hoặc thường nảy sinh ý định công kích người khác, trách cứ người khác, tự cao, tự đại, hay tự khoe mình, hay bốc đồng, khó từ kiềm chế.Đặc điểm là chưa đưa ra chứng cớ rõ ràng thì không bao giờ tin lời giải thích và lý do.
11. Loại giả dối
Hay che đậy, rất hay làm, khiêm tốn quá mức( kẻ khiêm tốn phần lớn là giả dối, kẻ quá kín đáo thường hay gian). Biết ăn nói, nhưng những lời lẽ đường mật thường là giả dối. Một danh nhân đã từng nói: ” Giả dối thì bị bậc trí giả khinh miệt, được kẻ ngu đần thán phục, còn kẻ a dua thì sùng bái và là nô lệ cho cái hư vinh của mình”.
12.Loại bất kham (Bất trị)
Rất thích tự do, không ưa bị ràng buộc, đắc chí là trổ tài, bất đắc chí nổi loạn bất kính.
13.Loại vô dụng
Bình thường hễ gặp vấn đề thực tế thì bó tay, không làm nổi.
14. Loại có chí lớn
Một mặt nổ lực thực tại, một mặt không thỏa mãn với hiện tại, có mục tiêu, có nghị lực, trung hòa, trọng lễ nghĩa, luôn cầu tiến bộ, sáng tạo trong thực tiễn, thất bại không nản chí, luôn đầy lòng tự tin và hy vọng. Biết làm điều mọi người không làm, dám làm điều mọi người không dám, đầu óc luôn nhanh nhậy, biết kiềm chế tình cảm, quan tâm đến người khác, dám nhận cái sai, luôn có chí tiến thủ, không tham lam, không xa xỉ. Loại người này có tiền đồ to lớn.
15. Loại trung thực
Trung hậu, thật thà, tâm địa trong sáng, phản ứng chậm, dễ bị lừa.
16. Loại tự đại
Kiêu ngạo, cuồng vọng, hay đại ngôn nhưng lại không có biện pháp, già rồi vẫn cầu tiến bộ, coi thường người khác, không thực tế, hay huyễn hoặc, không muốn nghe người khác. Đặc điểm coi mình là nhất ” mục hạ vô nhân”, thái độ ngạo mạn.
17. Loại thâm hiểm
Miệng cười thơn thớn nhưng giết người không dao, tâm địa độc ác, hay nói xấu người khác sau lưng, hay khiêu khích, ly dán người khác, hành động quỷ quyệt, trước mặt thì thừa nhận, miệng nói dẻo kẹo nhưng trong bụng dạ thâm hiểm.
Bề ngoài như muốn làm bạn với mọi người nhưng thực tế thì tìm cách lợi dụng, mượn dao giết người, đặt điều cho người khác, tự cho mình cao tay, sáng suốt.
18. Loại cơ hội
Không chút tín nghĩa, chỉ tính lợi hại, có lợi thì cho là tốt, không lợi thì giở mặt, khoác lác, khi người ta đắc thế thì xu nịnh, cung kính, khi thất thế thf miệt thị coi thường, thâm chí bán rẻ người ta.
19. Loại lưu manh
Mặt mày hung ác, toàn thân toát ra vẻ lưu manh, say mê bạo lực, lừa đảo, áp chế người lương thiện, có khi giả vờ thân thiện, tự coi mình là anh hùng hảo hán, kết bè, tụ tập với bọn xấu, tính tình ác độc khó thay đổi, gặp đại gian thì trở thành khuyển ưng, có khi trà trộn vào đám người tốt thì gây hại càng lớn, khó lường hết được.
20. Loại cầm thú
Xấu như lợn rừng, giảo hoạt như cáo, lòng dạ như lang sói, hay vu cáo, miệt thị người khác, ích kỷ, giả dối, thâm hiểm, cầu lợi, lưu manh. Lòng dạ độc ác nhưng lại làm như nhân nghĩa, thường thường lợi dụng đục nước béo cò, rắp tâm hại người. Đối với những loại này, chỉ là giặc trong xã hội, quyết không dung nạp, chỉ nên nhổ sạch, triệt hạ đến cùng.
Nguồnhttp://tailieunhansu.com/diendan/f560/lam-nhan-su-phai-biet-nhin-nguoi-75573/


Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Góp nhặt và Chia sẻ 3

LAW & LEGAL ISSUES - LUẬT LAO ĐỘNG, BHXH

Đúng điểm yếu rồi, thôi ngồi im và sưu tầm thôi, không dám có ý kiến :D. Mấy công văn, nghị định này nọ, ai cũng có cả rồi, nên tôi chỉ sưu tầm các tình huống cho phần này thôi nhé ;)

1. Hỏi về thuế TNCN cho người nước ngoài 
Mọi người cho e ý kiến về TH này của bên cty e với ạ!
- Ở cty e có 1 vài người nước ngoài sang công tác, có trường hợp visa B2, Có trường hợp visa B3 và có TH chỉ xin visa du lịch, thời gian công tác từ 1-6 tháng,
- Họ ko nhận lương ở VN mà vẫn nhận lương tại nước họ.
Về nơi ăn nghỉ, đi lại thì cty có thuê mấy căn hộ ở Cipucha dưới tên công ty chứ không ghi rõ tên cá nhân ở, đi lại thì cty có xe riêng đưa đón.

Vậy trong các TH này, công ty em có cần phải đk MST và tính thuế TNCN cho họ hay không ạ?

Rất mong nhận được tư vấn của cả nhà. Em cám ơn cả nhà nhiều nhiều ạ!

Chúc cả nhà tuần mới vui vẻ ạ ...^^ 

#1
Chào bạn,
Bạn nói như đúng rồi.

Người nước ngoài này có được trả lương cho thời gian làm việc tại VN đấy chứ, chỉ có điều
lương cho khoảng thời gian làm việc tại Việt Nam anh ta "nhận lương tại nước của anh ta".
Luật thuế nhà ta quy định: Cá nhân không cư trú có trách nhiệm nộp thuế TNCN đối với
thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả thu nhập.

Vậy anh ta phải nộp thuế TNCN.

#2
Hi,

Mình đọc của bạn thấy câu này: "thu nhập phát sinh tại Việt Nam" . Nếu anh ta không nhận tiền ở Việt Nam thì không cần phải đóng thuế thu nhập. 

#3
Chào bạn,

Đúng là người nước ngoài thường phải nộp thuế TNCN, nhưng mà cũng có lần hai nước chấp nhận yêu cầu nhân viên chỉ nộp thuế TNCN ở một nước thôi, để tránh người ta bị trả thuế TNCN hai lần.

Oscar PS

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f557/hoi-ve-thue-tncn-cho-nguoi-nuoc-ngoai-81993/#post121667
 
Và cuối cùng là???

2. Giám đốc là người nước ngoài có nhất thiết phải trả lương ở VN và đóng thuế ở Việt Nam hay không?
Dear all,
Các bạn tư vấn giùm mình, giám đốc là người nước ngoài có nhất thiết phải trả lương ở VN và đóng thuế ở Viet Nam hay không? Có cần hợp đồng lao động ở Viet Nam hay không?

#1: Có hai trường hợp.
1. Nếu công ty bạn là công ty con hoặc chi nhánh của 1 công ty nào đó bên nước ngoài nào đó thì:
– Nếu là người lao động tuyển mới cho công ty bạn (không do công ty nước ngoài tuyển dụng và điều chuyển qua) mặc nhiên bạn phải ký HĐLĐ và trả lương cho họ các thủ tục tài chính liên quan thì Kế toán họ lo.
– Nếu là lao động do công ty nước ngoài điều chuyển (tuyển mới hoặc nhân sự cũ) thì tùy theo nội dung quyết định điều chuyển: Nếu do công ty nước ngoài trả lương thì mình không phải trả và không phải ký HĐLĐ gì hết. Nếu là do công ty VN trả lương thì phải ký HĐLĐ và các thủ tục khác bình thường theo quan hệ lao động trong hợp đồng. Nếu cả hai công ty đều trả thì trách nhiệm kết chuyển chi phí lương sẽ do Kế toán lo (trong trường hợp này phải tùy thuộc vào việc kết chuyển của kế toàn, nếu họ kết chuyển chi phí lương do công ty VN trả vào chi phí lương cho người lao động thì phải thực hiện ký HĐLĐ bình thường theo mức lương kết chuyển, nếu kế toán họ kết chuyển chi phí này vào chi phí cho công ty bên nước ngoài tức là luân chuyển nội bộ thì không phải làm gì hết).
2. Nếu Công ty bạn là công ty 100% vốn nước ngoài độc lập tại Việt Nam thì bất lỳ lao động nào cũng phải thực hiện các nghiệp vụ theo quy định tức là ký HĐLĐ và các thủ tục thu nhập bình thường (lưu ý thuế họ hay sờ tới vụ thu nhập quốc tế đó).
Chúc bạn thành công

#2: Bạn lưu ý luôn là LĐ này phải làm work permit tại VN để hoàn thành đúng các thủ tục nữa nhé !
Thanks


3. Quy định về trách nhiệm bồi thường ?
Mình muốn hỏi mọi người một chút về quy định bồi thường trong trường hợp
- Làm hỏng hóc tài sản của công ty
- Làm mất tài sản của công ty
- Các trường hợp vi phạm khác
Mình có refer đến Mục 2 điều 130 Bồi thường thiệt hại nhưng chỉ thấy nói
- Nếu giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính Phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng
Vậy trường hợp giá trị hơn 10 tháng lương thì như thế nào?

Mọi người tư vấn hoặc refer đến các quy định liên quan cho mình với.
Cảm ơn cả nhà. 

#1
Gửi bạn,
Pháp luật lao động quy định về bồi thường thiệt hại rất sơ sài nhưng để ngỏ cho doanh nghiệp khá nhiều. Nếu doanh nghiệp không tự xây dựng thêm quy định thì rất khó áp dụng.

PL LĐ chia thiệt hại của doanh nghiệp thành 2 nhóm để xác định mức trách nhiệm bồi thường của NLĐ:
1- Có hành vi dẫn đến hậu quả làm hư hỏng công cụ, thiết bị hoặc àm thiệt hại tài sản của Công ty
Trường hợp này bồi thường với mức tối đa 10 lần lương tối thiếu vùng với tình huống là hậu quả không nghiêm trọng do sơ suất. Các tình huống khác được bỏ ngỏ.

2. Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động/hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức.
Trường hợp này được yêu cầu bồi thường theo thực tế hoặc thỏa thuận (dân sự).
Như vậy có thể hiểu pháp luật chỉ khống chế mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp NLĐ sơ xuất, không gây hậu quả nghiêm trọng.

Bạn không nói rõ tình huống cụ thể và lý do yêu cầu trách nhiệm bồi trường vật chất nên khó để chia sẻ nên như thế nào cho phù hợp.

#2
Bên mình chưa có quy chế về kỷ luật cũng như bồi thường nên mình cũng không biết phải xử lý thế nào
Công ty mình có bạn làm mất máy tính đã đã dùng đc hơn năm, máy tầm 12M
Theo như tài liệu mình refer được thì cũng chỉ là chung chung còn lại là tùy công ty quyết định.

Bạn có thể tư vấn giúp mình về hình thức bồi thường mà bên bạn đang áp dụng được không?
Thanks bạn nhiều 

#3
Trường hợp phát sinh ở Công ty bạn là NLĐ làm mất trang thiết bị làm việc (máy tính = tài sản Công ty), nên Công ty có thể yêu cầu NLĐ bồi thường. Vì trước đây không có quy định hay thỏa thuận gì cho tình huống này nên bây giờ hai bên có thể thỏa thuận về hình thức và mức độ bồi thường:
- Bồi thường vật đền vật (đền bằng máy khác)
- Bồi thường bằng tiền = 100% trị giá tại lúc giao (mua mới)
- Bồi thường bằng tiền = % trị giá theo khấu hao (đến thời điểm mất
NLĐ làm mất tài sản, nếu có Biên bản hoặc chứng cứ xác nhận thì có trách nhiệm bồi thường. Còn bồi thường bao nhiêu, bằng tiền/ vật/ công ích... thì tùy Công ty bạn đưa ra và hai bên thương lương.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f557/quy-dinh-ve-trach-nhiem-boi-thuong-82154/

4. Giải pháp hạn chế lao động lách luật trong vấn đề nghỉ việc
Chào anh chị,
Hiện công ty em đang xảy ra nhiều vấn đề người lao động lách luật trong việc xin nghỉ mà em cũng chưa biết xử lý ra sao. Mong anh chị tư vấn giúp.
Trong nội quy công ty em có ghi rất rõ thông tin theo đúng quy định của luật lao động và phổ biến cho người lao động:
– NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật sẽ phải bồi thường công ty theo điều 43 Bộ luật lao động.
– Người lao động lại lách điều này dựa theo điều 126 và khoản 2 điều 128. Họ cứ tự ý nghỉ 5 ngày trong tháng đó để được công ty sa thải mà vẫn nhận được nguyên lương và sổ BHXH.
Do em cũng còn nhiều điểm chưa biết hết về các quy định của pháp luật và cũng chưa có biện pháp gì để khắc phục tình trạng nói trên nên nhờ anh chị tư vấn giúp phương án giải quyết vấn đề này.
Vấn đề gần đây em gặp phải rất nhiều, mong mọi người tư vấn gấp giúp em.
Cảm ơn anh chị đã quan tâm.

#1:
Điều 124 Luật LĐ thì Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 6 tháng kể từ ngày xảy ra vi phạm. Bạn chờ hết hạn hãy xử lý kỷ luật xem họ có chờ đến lúc đó nhận sổ BHXH được không.

#2:
Em chưa hiểu lắm, nếu đã sa thải tức là đã thực hiện hành vi xử lý kỷ luật rồi còn thời hạn 6 tháng kia là sao ạ.
Chị giải thích giúp em nhé.
Cảm ơn chị.

#3:
Em đừng xử lý kỷ luật ngay sau vi phạm và muốn sa thải em phải lập hội đồng mà, chờ gần hết thời hiệu xử lý hãy tiến hành làm thủ tục và sa thải.

#4:
Chào bạn
Ở trên, có bạn đưa ra đối sách về kéo dài thời gian xem xét xử lý kỷ luật cũng khá hay. Mình e rằng bạn, bạn sẽ khó kiểm soát được NLĐ sẽ làm gì khi chờ bên bạn xem xét kỷ luật, ra quyết định. Bởi khi đó, họ vẫn có thể vào khu vực làm việc, vẫn phải thực hiện các trách nhiệm phúc lợi, chế độ theo dõi, báo cáo và kế hoạch sử dụng nhân lực không hiệu quả. Chưa kể, có thể NLĐ bị rủi ro về sức khỏe, về tính mạng trong thời gian này thì sẽ rất phiền phức trong xử lý trách nhiệm.
Mình nghĩ, đối với các vấn đề nổi cộm cho 1 tổ chức (tính phổ biến) thì nên tìm ra giải pháp tổng thể từ nội lực lẫn điều kiện thực tiễn. Trước đây, mình cũng từng gặp phải thực trạng như các bạn. Khi đó, mình đã vạch ra kế hoạch dài hơi và có hiệu quả nên mình có thể đúc kết lại vài ý chia sẻ sau:
1 – Công tác đào tạo: Đặt cao vai trò đào tạo đầu vào/tham quan công việc: Mục tiêu cho NLĐ nhận thức được trách nhiệm của mình trong QHLĐ, những rủi ro gặp phải khi vi phạm Luật lao động, vi phạm HĐLĐ
2 – Công tác dân vận: Sử dụng nội lực là các vị trí quản lý/Tổ đội trưởng và những nhân viên có ý thức tốt, hiểu biết về doanh nghiệp lẫn có uy tín trong công việc để thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở đồng nghiệp khi có dấu hiệu vi phạm. Đồng thời, đây chính là mạng lưới thông tin nội bộ rất hữu ích giúp cho bộ phận làm nhân sự giải quyết các sự vụ phù hợp nhất.
3 – Công tác xây dựng chính sách: Khi nắm được các thông tin lý do nhân sự nghỉ việc/bỏ việc hay vi phạm HĐLĐ/Luật Lao động sẽ xem xét nghiêm túc bước cải tiến chế độ chính sách, văn hóa, môi trường làm việc nội bộ làm sao để thu hút được lao động gắn bó hơn
4 – Công tác xử lý nghiệp vụ: Với mỗi 1 trường hợp nghỉ việc/bỏ việc sẽ có nhiều tình tiết khác nhau. Nghiêm túc xem xét chi tiết từng sự vụ và cố gắng theo đuổi mục tiêu xử lý trên tinh thần thượng tôn pháp luật (không lạm quyền chuyên chế nhưng cũng không dễ bỏ qua sai phạm)
5 – Công tác ĐIỂM: Có thể sẽ phải chọn ra 1 sự vụ có tính răn đe để giải quyết sai phạm lao động. Rất tiếc, hiện nay các doanh nghiệp chỉ có thể đưa NLĐ ra tòa để phân xử nhưng có quá nhiều bất cập trong xét xử cũng như thi hành án lao động. Nhưng nếu chúng ta sợ điều đó thì đồng nghĩa rằng chúng ta cũng đang chấp nhận mình bất lực. Nếu tìm cách giữ sổ lao động, giữ lương hay làm khó người lao động thì chúng ta đang biến mình là người đúng thành người sai.

#5:
Chào bạn,
Mình xin tư vấn cách làm mà bên mình thực hiện như sau:
Với những trường hợp tự ý nghỉ từ 5 ngày trở lên trong tháng ( cố tình lách luật để “được” sa thải), công ty bạn nên:
1. Gửi thư/công văn yêu cầu đúng thời hạn abc nào đó phải có mặt tại công ty để giải quyết công việc. Nhớ lưu giữ lại một bản công văn và Bill ngày gửi công văn đi để chứng minh là công ty đã liên lạc với người lao động.
Trong công văn ghi rõ: Nếu sau thời hạn này, mà anh chị không có mặt tại công ty để giải quyết công việc liên quan thì sẽ bị xem như là Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật.
2. Đến ngày người lao động không có mặt, anh/chị lập biên bản về sự việc với sự tham gia chứng kiến của đại diện BCH công đoàn cơ sở.
3. Sau hai bước trên, anh chị hoàn toàn có thể áp dụng điều 41, 43 của bộ luật lao động. ( người lao động vi phạm thời gian báo trước)


5. Công ty không đóng bảo hiểm thất nghiệp thì có phải trả trợ cấp thôi việc không ?
Dear cả nhà,
Mình là HR bên hospitality – khu nghỉ mát. Các bạn cho mình hỏi chút về vấn đề liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thôi việc chút.
Công ty mình có 2 phòng nhân sự: Non-hotel và hotel. Mình thuộc HR hotel. HR Non-hotel có làm hợp đồng cho một nhân viên với công ty như sau:
+ Lần 1: 02/01/13 den 14/10/13 (9 months)
+ Lần 2: 15/10/13 – 31/5/14 (7 months)
Sau khi ký hợp đồng lần 2 thì nhân viên này được chuyển sang cho HR hotel (cũng cùng công ty) quản lý, tính chất công việc, chức danh và mức lương như cũ.
Hợp đồng kết thúc công ty không ký tiếp với bạn và chỉ thông báo miệng trước 3 ngày.
Vì hợp đồng 2 lần đều dưới 1 năm nên HR non-hotel không đóng BHTN cho nhân viên này.
Giờ nhân viên này gọi điện kiện công ty và yêu cầu công ty phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn ấy.
Theo mình tìm hiểu thì trong trường hợp này công ty phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn ấy 1/2 tháng lương vì hợp đồng dù là thời vụ nhưng 2 lần ký sát nhau, không có khoảng cách thời gian nghỉ giữa 2 lần ký.
Các anh/chị nào gặp trường hợp này chưa ạ, tư vấn giúp mình với. Mình có hỏi 1 số anh chị HRM ở hotel khác thì được tư vấn là trợ cấp thôi việc chỉ áp dụng cho hợp đồng trước 12/2009 nên không việc gì mình phải trả cho nhân viên này.
Em cảm ơn!

#1
Bạn làm trợ cấp thôi việc cho NLĐ:
1. Thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc: Là khoảng thời gian từ ngày NLĐ bắt đầu làm tại Cty tới khi NLĐ nghỉ, không tính khoảng thời gian Công ty đã đóng BHTN cho NLĐ này. Theo thông tin ngày tháng bạn cung cấp thì NLĐ làm việc tại Cty bạn là 16 tháng 17 ngày (1 năm 4 tháng 17 ngày liên tục). Bạn có thể trả theo hai mức:
– 0,5 tháng lương (trung bình 6 tháng liền kề gần nhất). Nếu sếp của bạn khó. Nếu NLĐ hỏi 4 tháng 17 ngày của tôi đâu thì bạn trả lời là không đủ 12 tháng liên tục.
– 0.75 tháng lương (trung bình 6 tháng liền kề gần nhất). Nếu sếp của bạn dễ. Trường hợp này NLĐ sẽ không hỏi gì mà chỉ có sếp bạn hỏi. Bạn trả lời là 4 tháng 17 ngày đó làm tròn lên 6 tháng (1/2 năm) tính 1/4 tháng lương.
Vì luật không quy định rõ ràng chỗ này nên mình tùy theo quan điểm của sếp và tâm lý người lao động giải quyết sao cho có lợi nhất cho NLĐ là được (nghề nhân sự mà).
2. Thông tin chỉ trả trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian trước 31/12/2008 (không phải là 2009) là một số nhân viên lười nhác, công ty lợi dụng thông tin nhiễu để không giải quyết chế độ cho người lao động thôi.
Bạn xem kỹ điều 48 luật lao động mới nhé, luật viết rất rõ ràng.
Chúc bạn luôn thành công trong các tình huống xử lý quan hệ lao động để khỏi phải kiện tụng gì nhiều nhé.
Trân trọng!


6. Trợ cấp thôi việc
Chào cả nhà,
Em có thắc mắc về thời gian tính trợ cấp thôi việc như sau nhờ anh chị em giúp đỡ:
– Theo điều 48 Luật lao động 2012:
< 1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.>
Như vậy: Ví dụ 1 NLD vào làm việc ngày 1/3/2012 ,thời gian thử việc 30 ngày ký HDLD ngày 1/4/2012, NLD nghỉ việc vào ngày 1/8/2013. Vậy khoảng thời gian thử việc 30 ngày công ty có phải trả trợ cấp thôi việc hay không? Vì thời gian này NLD không được tham gia BHTN.
Thắc mắc tương tự cho thời gian NLD nữ nghỉ thai sản, thời gian này cũng không tham gia BHTN, vậy công ty có phải chi trả trợ cấp thôi việc hay không?

#1 
Đọc câu hỏi của bạn này làm mình giật mình. Đúng là bình thường NSDLD thường không để ý đến thời gian thử việc.
Theo quy định của pháp luật thì thời gian này phải được trả trợ cấp thôi việc, trừ khi doanh nghiệp tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động cả thời gian thử việc.
Bạn có thể tham khảo thêm ở link bên dưới nhé.



7. Có thể đưa điều kiện nhân viên không được làm việc cho công ty đối thủ hoặc khách hàng vô thằng hợp đồng lao động ?
Chào ACE,
Trước giờ, theo mình biết thì trong hợp đồng lao động không có ghi ràng buộc là nhân viên không được làm việc cho công ty đối thủ hoặc khách hàng trong 1 hoặc 2 năm khi nghỉ việc. Ràng buộc này thường chỉ thấy xuất hiện trong các bản hợp đồng ký riêng rẻ giữa công ty và đối tác.
Tuy nhiên, thực tế thì vẫn có một số hợp tác giữa công ty và khách hàng mà không có ký ràng buộc hợp tác như trên. Sau đó thì khách hàng lại âm thầm rút người của công ty.
Vậy mình có thể đưa điều kiện trên vô thằng hợp đồng lao động không? Nếu không được thì vì những lý do nào (nghị định, luật…)
Mong ACE góp ý.
Thân ái,

#1 
Chào bạn,
Mình cũng đang có thắc mắc giống bạn và mình đã check thông tin trên internet và tìm được câu trả lời như dưới đây. Các bạn cho thêm ý kiến với nhé. Thanks.
Hỏi:
– Tôi có ký kết hợp đồng với một công ty giao nhận hàng hóa với điều khoản như sau: “Trong khoảng thời gian thực hiện hợp đồng và 24 tháng kể từ sau khi chấm dứt hợp đồng, tôi không được phép tiết lộ thông tin khách hàng hay bí mật kinh doanh của công ty cho một tổ chức khác và không được phép tham gia một tổ chức có hoạt động kinh doanh tương tự”. Vậy điều khoản này có hợp lý không? Tôi làm được nửa tháng nhưng cảm thấy không phù hợp với công ty nên xin nghỉ và được phê duyệt. Nếu tôi muốn làm dịch vụ kinh doanh tương tự có được hay không?
Nguyễn Thị Hưng (huyện Tây Hòa)
* Trả lời:
– Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 15 Bộ luật Lao động 2012). Như vậy, các điều khoản trong hợp đồng lao động được xây dựng dựa trên sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Liên quan đến điều khoản bạn đề cập ở trên thì khoản 2 Điều 23 Bộ luật Lao động 2012 có quy định: “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm”. Do đó, điều khoản thỏa thuận bạn không được tiết lộ bí mật kinh doanh như bạn đã nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều khoản liên quan đến việc sau 24 tháng kể từ sau khi chấm dứt hợp đồng, bạn không được phép tham gia một tổ chức có hoạt động kinh doanh tương tự là không hợp lý. Bởi lẽ, hợp đồng lao động điều chỉnh các vấn đề trong quan hệ lao động. Khi hợp đồng lao động chấm dứt hiệu lực thì không còn giá trị thực hiện giữa các bên, đồng thời không còn quan hệ lao động giữa bạn và người sử dụng lao động. Vì thế, trong hợp đồng lao động không thể có điều khoản điều chỉnh mối quan hệ không phải quan hệ lao động được.
Bạn đã làm tại công ty được nửa tháng nhưng sau đó do không phù hợp nên bạn đã xin nghỉ và được phê duyệt. Như vậy là cả bạn và người sử dụng lao động đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động thỏa mãn quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2012. Như đã phân tích ở trên, khi hợp đồng lao động không còn hiệu lực thì quan hệ lao động giữa bạn và người sử dụng lao đồng cũng chấm dứt. Do đó, bạn hoàn toàn có thể làm việc tại một doanh nghiệp khác theo ý muốn của bạn.


8.  Sep muon cho lao dong nu dang mang thai nghi viec:
Dear các bạn trong group,

Mình đang gặp 1 trường hợp rất khó xử, rất mong các bạn có kinh nghiệm tư vấn giúp mình nên làm thế nào:

Bạn nhân viên nữ đang mang thai được 3 tháng. Bạn ấy xin nghỉ unpaid leave được 2 tháng nay và có thể sẽ nghỉ thêm đến vài tháng nữa vì lý do thai nghén nên sức khỏe rất yếu.

Ý sếp mình là cho bạn ý nghỉ việc luôn vì bên mình đang chịu sức ép về headcount do headquarter áp xuống. Mình muốn hỏi:

1. Có cách nào để giải quyết được vấn đề về headcount mà không phải cho bạn ấy nghỉ việc bởi dự án bên mình đang rất cần người, không thể bỏ khách hàng được.
2. Nếu cho bạn ấy nghỉ thì công ty sẽ phải đền bù như thế nào? Mình đã tra luật thì sẽ phải đền bù cho những ngày không làm việc + tối thiểu 2 tháng lương theo HĐLĐ. Vậy những ngày không làm việc đó được tính như thế nào? Luật lao động không ghi rõ khoản này.

Hợp đồng làm việc của bạn ấy: không xác định thời hạn.

Rất mong nhận được tư vấn, góp ý của các bạn trong hội. Sếp mình đang muốn sa thải luôn từ ngày mai, rất mong nhận được tư vấn của các bạn sớm.

Cảm ơn các bạn nhiều!
Regards, 

#1
1. Tạm hoãn HĐLĐ mình thấy có vẻ hợp lý với t/h của bạn.
2. Đền bù: Cách đền bù của bạn như vậy là sai. Mức đền bù phải là mức cho đến khi bạn ấy đồng ý.

#2
Chào bạn,

Trường hợp này, mình xin góp ý như sau:

1. Để đáp ứng nhân sự trong thời điểm dự án này, bạn nên tuyển nhân sự ngắn hạn (có thể là hợp đồng 6 tháng) để giải quyết.

2. Nếu sa thải bạn bạn này thì rõ ràng là sai luật, nếu cho nghỉ & thỏa thuận được với bạn ấy thì phải bồi thường mức hợp lý cho đến khi bạn ấy đồng ý (tham khảo điều 155 - Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ). Vì vậy, mình nghĩ rằng bạn nên thảo luận với Sếp & tư vấn cho sếp hiểu các điều luật lao động để có hướng giải quyết tốt nhất.

Hy vọng bạn sớm giải quyết vụ khó xử này. 

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f557/sep-muon-cho-lao-dong-nu-dang-mang-thai-nghi-viec-81820/

9. Tư vấn về việc kết thúc hợp đồng đối với nhân viên vi phạm kỷ luật trong thời gian nghỉ thai sản 
Chào các Anh chị,

Bên công ty của bạn mình hiện đang có một trường hợp: Nữ nhân viên đang trong thời gian nghỉ thai sản, nhưng trước đó đã vi phạm kỷ luật (nhưng trong thời gian nghỉ thai sản mới phát hiện ra), công với hợp đồng lao động sắp hết hạn. Trưởng bộ phận không muốn ký tiếp (do đã vi phạm kỷ luật), nhờ các Anh/Chị cho ý kiến, nếu không ký tiếp hợp đồng nữa thì có vi phạm gì không? (do đang trong thời kỳ thai sản)

Rất mong sớm nhận được sự tư vấn của các Anh/ Chị

Chân thành cảm ơn! 

#1
Chào bạn

Theo điều 36 Luật lao động sửa đổi, bổ sung thì việc hết hợp đồng Stop là việc rất chi là bình thường nha em và đúng với luật hiện nay

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

#2
Theo như Bộ luật Lao động Điều 155 thì công ty bạn không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật hoặc sa thải đối với lao động nữ đang trong thời gian thai sản. Trường hợp bên Công ty bạn không muốn ký tiếp hợp đồng với người lao động nữ này thì phải đợi đến hết thời hạn hợp đồng lao động giữa hai bên thì được quyền không ký tiếp với người lao động, Kể cả lao động nữ trong thời gian thai sản vì đã hết hạn hợp đồng, Công ty không có nhu cầu ký tiếp.

Thân. 

#3
Mình đã được học về tình huống này, kết thúc HĐLĐ trong trường hợp này là không sai luật bạn nhé.

Bạn cũng có thể tham khảo bài viết dưới đây:

http://luatminhkhue.vn/lao-dong-1/di...thai-san-.aspx

Thân mến,

#4
Trường hợp này khi hợp đồng lao động hiện tại hết hiệu lực, công ty không ký tiếp nữa là được KỂ CẢ đang trong thời kỳ thai sản. Sao lại gọi là ĐƠN PHƯƠNG chấm dứt hợp đồng lao động được. 

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f557/tu-van-ve-viec-ket-thuc-hop-dong-doi-voi-nhan-vien-vi-pham-ky-luat-trong-thoi-gian-nghi-thai-san-81334/

10. Xin nghỉ việc sau thời gian hết hạn hợp đồng lao động

Công ty mình có 1 trường hợp nhân viên hết hợp đồng 1 năm vào ngày 5/11, tuy nhiên ngay 22/10 bạn ấy viết đơn xin nghỉ việc và trong đơn ghi thời hạn ngày cuối cùng làm việc của bạn ấy sẽ là 20/11.

Mình băn khoăn không biết giải quyết tình huống này thế nào. Liệu có nên thuyết phục bạn kia nghỉ việc vào ngày 5/11 hay issue 1 phụ lục HĐ cho 15 ngày làm việc của bạn kia?

Mọi người giúp mình với. 

#1
Chào bạn,
Theo mình thì vấn đề này bạn cứ thông báo với người lao động về thời hạn hết hiệu lực HĐLĐ theo quy định là trước 15 ngày và thông báo sẽ không tái ký HĐLĐ với họ là ok rồi. Bạn đâu cần quan tâm đến đơn xin nghỉ việc của họ nữa. Hết hạn HĐLĐ là có thể chấm dứt luôn mà, bạn xem điều 36 luật lao động nhé
Thân! 

#2
Bạn ơi mình nhớ không nhầm thì theo luật phải thông báo trước 30 ngày mà.

#3
Bạn báo trước 30 ngày nếu đơn phương chấm dứt HĐ thôi, còn đây là hợp đồng đương nhiên hết hạn mà. Chỉ cần báo cho người lao động về thời hạn hết hạn HĐLĐ trước 15 ngày theo quy định là ok rồi.

#4
Đối với trường hợp này thì tư vấn cho NLĐ về thời hạn HĐLĐ của họ sắp hết (vì nhiều bạn nhân viên không nhớ ngày kết thúc HDLD của mình đâu).

Trân trọng, 


Góp nhặt và Chia sẻ 2

TRAINING & DEVELOPMENT - ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN

Đây là một vấn đề rất quan trọng, khiến cho nhiều HRM vẫn loay hoay, không biết làm thế nào cho vừa phù hợp với định hướng của công ty, vừa phù hợp với trình độ của nhân viên. Vậy, tôi xin phép sưu tầm một vài topic để chúng ta thấy được tầm quan trọng của quá trình này, cũng như một số phương pháp để tham khảo.

1. Công tác đào tạo yếu tố then chốt trong phát triên doanh nghiệp
Chất lượng nguồn nhân lực trẻ hiện nay chưa đáp ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp. Sinh viên mới tốt nghiệp vào công tác ở xí nghiệp, công ty thường gặp khó khăn khi tiếp cận với các thiết bị khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại. Không chỉ nghiệp vụ chuyên môn mà ngay cả khâu viết lách và diễn đạt của nhiều sinh viên ra trường vẫn còn yếu kém


Nhân lực là yếu tố then chốt đối với sự phát triển của mỗi công ty. Vì vậy, các doanh nghiệp không tiếc công sức đầu tư cho công tác tuyển dụng với mong muốn xây dựng được đội ngũ nhân sự trình độ cao. Nhưng thực tế cho thấy các nhà lãnh đạo và quản trị không ngừng than phiền về chất lượng nhân viên của mình. Vấn đề đặt ra là các chủ doanh nghiệp vẫn chưa đánh giá đúng mức vai trò của công tác đào tạo trong quá trình làm việc. Vì vậy, nhìn lại thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra các vai trò của đào tạo nội bộ là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp trăn trở về chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực trẻ hiện nay chưa đáp ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp. Sinh viên mới tốt nghiệp vào công tác ở xí nghiệp, công ty thường gặp khó khăn khi tiếp cận với các thiết bị khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại. Không chỉ nghiệp vụ chuyên môn mà ngay cả khâu viết lách và diễn đạt của nhiều sinh viên ra trường vẫn còn yếu kém. Một trong những nhược điểm lớn nhất của họ hiện nay là thiếu khả năng tư duy, sáng tạo và tính chủ động trong công việc. "Rất ít sinh viên tốt nghiệp về công tác ở Dệt Phong Phú có tính sáng tạo, tự tin nên không bao giờ dám đưa ra ý tưởng mới. Họ chỉ ngồi chờ cấp trên giao đề tài hoặc phải chỉ thị đích danh mới dám nói, mặc dù trong đầu có rất nhiều ý tưởng hay", bà Trần Thị Đường, Tổng giám đốc Công ty Dệt Phong Phú, bộc bạch. Thông thường mỗi đợt tuyển dụng của Dệt Phong Phú chỉ có 20%, thậm chí 10% ứng viên đạt tiêu chuẩn.

Trong khi đó, khoảng cách giữa cung - cầu nhân lực ngày càng lớn, khiến cuộc đua giữa các doanh nghiệp để tranh giành nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng căng thẳng. Dự báo trong năm 2008, lĩnh vực tài chính - ngân hàng tiếp tục là "điểm nóng" với chỉ số cầu có thể cao gấp 6-7 lần so với nguồn cung nhân lực. Trong thời điểm hiện nay và một vài năm tới, khoảng cách giữa cung - cầu nhân lực rất khó thu hẹp được trong phần lớn các ngành nghề.

Tuy nhiên việc đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân lực hiện có tại doanh nghiệp lại không được chuẩn bị tốt. Phần lớn các doanh nghiệp chưa có chiến lược đào tạo và phát triển nhân lực, kể cả ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với mục tiêu phát triển của mình. Để theo đuổi một hoạt động tạm thời, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng liên tục cắt giảm hoạt động huấn luyện cho nhân viên của mình. Một số nhà quản lý hoặc không xem đây là một phần công việc của mình, hoặc vô tình quên mất nhiệm vụ này do luôn phải ở trong guồng quay hối hả của việc kinh doanh. Một số doanh nghiệp cũng tổ chức những khóa đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng cho nhân viên nhưng chưa được như mong muốn do chưa áp dụng các chuẩn quốc tế vào chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo. Mặt khác, chúng ta còn thiếu nhiều chuyên gia đào tạo có đủ năng lực và kỹ năng sư phạm.

Đào tạo giúp thu hút nguồn nhân lực tiềm năng

Doanh nghiệp biết cách tạo cơ hội học tập và phát triển cho nhân viên sẽ thu hút được những người trẻ đầu quân cho họ. Cơ hội được học hỏi và phát triển bản thân cũng như sự nghiệp là là mong muốn đặc biệt cháy bỏng của những sinh viên mới ra trường. Hãng tư vấn nhân sự Ernst & Young (Anh quốc) vừa tiến hành một cuộc điều tra đối với hơn 1.000 sinh viên vừa tốt nghiệp về các yếu tố ảnh hưởng tới lựa chọn công việc trong tương lai và phát hiện ra gần 1 nửa (44%) coi trọng cơ hội được đào tạo thêm trong khi chỉ 18% quan tâm nhất đến các khoản lương, thưởng. Ước mơ, khát vọng, nhu cầu được khám phá, trải nghiệm và thách thức, đó là những điểm khác biệt của một nhân viên mới rời ghế nhà trường so với một nhân viên đã trưởng thành và có kinh nghiệm lao động. Điều đó chi phối cách chọn lựa công việc tương lai của họ.

Đào tạo giúp bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực

Chuẩn bị một lực lượng lao động có đủ trình độ để sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu trong công việc là chìa khóa để rút ngắn khoảng cách giữa cung - cầu nhân lực và chuẩn bị cho những đòi hỏi của thị trường nhân lực trong tương lai. Nếu chúng ta đi đúng qui trình, tình hình mất cân đối cung cầu sẽ bớt căng thẳng sau 3-5 năm nữa. Nếu lãnh đạo doanh nghiệp không bắt tay vào việc phát triển nhân tài cho chính doanh nghiệp của mình thì anh ta sẽ phải trông chờ vào nơi khác, hoặc phải dùng lương cao và phúc lợi hấp dẫn hơn để thu hút những người mà chưa chắc kiến thức và kỹ năng của họ khiến bạn hài lòng 100%. Mặt khác một khi doanh nghiệp dùng lương bổng để lôi kéo nhân viên thì sớm hay muộn, họ cũng không thể giữ chân anh ta lại.

Theo bà Trần Thị Đường, Tổng Giám đốc Công ty Dệt Phong Phú, khi gia nhập WTO, các tập đoàn kinh tế thế giới vào Việt Nam, chắc chắn cuộc cạnh tranh không chỉ diễn ra trên thị trường xuất khẩu mà còn ở thị trường nội địa. Trong khi đó, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam rất yếu kém. Yếu tố quan trọng nhất hiện nay là thiếu hụt đội ngũ cán bộ quản lý cao cấp được đào tạo theo yêu cầu của nền kinh tế hội nhập. Hơn ai hết, các doanh nghiệp phải tự thân vận động, đào tạo nguồn nhân lực cao cấp mới có thể đáp ứng yêu cầu của công việc.

Đào tạo giúp nâng cấp nguồn nhân lực hiện có

Đầu tư vào công tác đào tạo nguồn nhân lực hiện có sẽ đem lại hiệu quả trong việc nâng cấp nhân viên dưới quyền, khẳng định vai trò và năng lực của nhà quản lý, thiết lập mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ và phát triển hình ảnh công ty trong mắt khách hàng và đối tác.

Việc trao cho nhân viên những kỹ năng hoặc kiến thức mới không chỉ giúp họ hoàn thành công việc nhanh chóng và hiệu quả hơn mà còn nâng cao mức độ thỏa mãn của họ trong công việc và có động lực để tự gia tăng hiệu suất làm việc. Nhân viên được chỉ bảo để làm tốt công việc, họ sẽ có thái độ tự tin, làm việc một cách độc lập và chủ động hơn; ngược lại, họ trở nên chán nản mà rời bỏ công ty.

Nhà quản lý biết cách phát triển năng lực làm việc của nhân viên cũng đồng nghĩa với việc mở rộng con đường thăng tiến của chính mình. Một mặt, họ có khả năng thu hút xung quanh mình những người có năng lực làm việc. Mặt khác, họ sẽ tự chuẩn bị trước một đội ngũ kế cận, sẵn sàng thay thế vai trò của mình. Trong quá trình đào tạo, nhà quản lý khéo léo sắp đặt những nhân viên giàu kinh nghiệm tiến hành tập huấn cho những nhân viên mới vào nghề, còn có thể giúp cho đôi bên thiết lập được quan hệ thày trò trong quá trình tập huấn.

Việc đào tạo tốt có thể đem lại cho doanh nghiệp một lực lượng quảng cáo nhiệt tình và chân thực nhất về hình ảnh công ty. Nhiều công ty ở Nhật bản đã bố trí cho nhân viên thao tác thang máy trong các cửa hàng bách hóa tham gia đợt tập huấn trong thời gian dài tới vài tháng. Hoạt động này giúp họ làm quen với khách hàng và cửa hàng, dễ dàng hướng dẫn cho khách hàng. Sau đợt tập huấn dài này, họ không những đảm nhiệm tốt chức trách của nhân viên thao tác thang máy, mà trên thực tế đã tương đương với đặc sứ của cửa hàng.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/cong-tac-dao-tao-yeu-then-chot-trong-phat-trien-doanh-nghiep-79766/ 

2. Nhân lực có vững, phát triển mới bền
Kinh tế bao cấp kéo dài khoảng 10 năm (1975- 1986), giai đoạn thất bại và tù đọng nhất của nền kinh tế nước nhà trong chừng ấy thời gian đã để lại cho đất nước một bộ phận không nhỏ nguồn nhân lực trì trệ cả về tư duy lẫn hành động trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển.



Hệ lụy của nó - tư duy làm công ăn lương, ăn xổi ở thì, tham ô, hối lộ, vơ vét của công... xem ra còn phải mất rất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ và nhiều nguồn lực để chấn chỉnh, cải thiện.

Giai đoạn có thể được xem là thời kỳ phát triển tốt nhất của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua là từ năm 2005- 2010. Nhưng hóa ra, đây lại là giai đoạn nền kinh tế phát triển quá nóng, theo kiểu bong bóng, thiếu thực chất. Hậu quả là đến năm 2011-2012, nền kinh tế phải đối mặt với sự chao đảo của thị trường tài chính, nợ xấu chồng chất, bất động sản đóng băng, sản xuất trì trệ, thị trường chứng khoán sụt giảm nghiêm trọng, tăng trưởng tín dụng âm, nguy cơ lạm phát cao, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, nhiều đại gia một thời giờ kiệt quệ, bị bắt, thậm chí bị bỏ tù.

Sức nóng ảo của nền kinh tế dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, nảy sinh những hệ lụy khôn lường: tâm lý chuộng bằng cấp, đánh giá năng lực nhân sự vội vàng, thiếu chính xác, các doanh nghiệp do có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực đã tìm mọi cách để cạnh tranh, thu hút, tâng bốc giá trị không thực của nguồn nhân lực, bố trí công việc, bổ nhiệm, ban tặng quá dễ dãi những chức danh đao to búa lớn, vượt lên cả qui mô hiện hữu và nhu cầu sản xuất kinh doanh thực tế của mình. Tất cả những điều này đã đẩy cái tôi của triệu triệu người lao động Việt Nam lên đến mức không thể chịu nổi.

Tại diễn đàn "Quản trị nguồn nhân lực trong giai đoạn khó khăn" được tổ chức vào ngày 28/3/2012 vừa qua tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, ông Phạm Minh Huân - Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh - Xã hội cho rằng "khả năng chống đỡ của nền kinh tế Việt Nam rất kém vì nguồn nhân lực không vững vàng".

Sự “không vững vàng” có lẽ không chỉ nằm ở nền giáo dục, ở năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn..., mà còn trong cả thái độ và hậu quả của sự nuông chiều thái quá của một bộ phận các ông chủ doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp chỉ biết chăm chăm vào lợi nhuận, vào những giá trị hữu hình mà quên đi một trong những vai trò vô cùng cần thiết, rất ý nghĩa, đó là chăm sóc, đào tạo, hướng dẫn và phát triển nhân sự; trước mắt là tại đơn vị, doanh nghiệp mình, và sâu xa hơn là góp phần xây dựng nguồn nhân lực có đủ tâm, đủ tài cho cả xã hội.

Thủ tướng Chính phủ ngày 19/2/2013 đã ký phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020, với nhận định “Việt Nam rất cần một tầm nhìn, một công cuộc cải tổ và chiến lược gắn đầy đủ nhất với mục đích phát triển bền vững”.

Nỗ lực hướng đến một nền kinh tế phát triển bền vững có lẽ sẽ khó đạt được nếu chính cộng đồng doanh nghiệp, chính mỗi người lao động không ý thức đầy đủ được trách nhiệm, vai trò và giá trị thực thụ của mình trong mối quan hệ hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/nhan-luc-co-vung-phat-trien-moi-ben-79998/

3.  Lý do DN phải chăm sóc những kẻ hưởng thụ, lười biếng và thích vỗ về
Thế hệ lớn tuổi đang trên đường nghỉ hưu và thế hệ trẻ trở thành lực lượng lao động chính. Để phù hợp với họ, chính bản thân công ty cần phải điều chỉnh văn hóa của mình.



Bạn có thể đã nghe một số lời bình luận về lứa nhân viên trẻ tuổi: Họ đang hưởng thụ, lười biếng và luôn muốn được vỗ về.

Nghe thật khó chịu. Nhưng hãy thử nghĩ, thế hệ lớn tuổi đang trên đường nghỉ hưu và thế hệ trẻ trở thành lực lượng lao động chính. Thế thì bạn không thể bỏ qua những con người trẻ tuổi thích dỗ dành này. Thay vào đó, bạn cần có bí quyết để thúc đẩy những nhân viên này, thậm chí là phải khiến họ cảm thấy hài lòng.

Hãy thử xem qua một vài điều dưới đây:

Tại sao nhân viên trẻ quan trọng?

Đến năm 2020, thế hệ trẻ sẽ chiếm khoảng 50% lực lượng lao động, theo một nghiên cứu của PwC. Đây là một câu trả lời khá rõ ràng cho câu hỏi tại sao các công ty nên quan tâm đến mức độ hài lòng của nhân viên trẻ tuổi. Một cuộc khảo sát quy mô lớn được tổ chức với sự tham gia của 13.000 nhân viên đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, thương mại điện tử và truyền thông kỹ thuật số cho thấy, 70% trong số này là người trẻ.

Còn đây là một lý do quan trọng để cải thiện mức độ hài lòng: Sự ràng buộc và hài lòng sẽ giúp năng suất làm việc hiệu quả hơn. Tuy nhiên, theo Gallup, sự ràng buộc của nhân viên đang ở mức rất thấp. 70% số nhân viên được khảo sát chỉ thể hiện mối ràng buộc với công ty thông qua máy chấm công.

Không phải những nhân viên này sẽ bị buộc phải thay đổi, mà chính công ty sẽ phải thay đổi để phù hợp với nhân viên Việc có nhiều nhân viên là người trẻ sẽ tạo nên ý thức điều chỉnh văn hóa công ty - và thậm chí phúc lợi – để khiến nhóm nhân viên này hài lòng.

Dưới đây là một số cách khiến những gã trẻ tuổi cảm thấy hài lòng, làm việc hiệu quả hơn và ít bỏ việc:

Trả tiền theo năng lực: Việc khảo sát cho thấy, dù tạo ra một nền văn hóa công ty tuyệt vời để giữ chân nhân viên năng động rất quan trọng, thì tiền lương vẫn có một tác động rất lớn về tinh thần. Thực tế, người có hiệu suất làm việc 116% có khả năng ở lại công ty sau 2 năm nhiều hơn so với người có hiệu suất làm việc thấp. Trung bình, một nhân viên có hiệu suất cao làm việc hiệu quả hơn 35% so với người có hiệu suất thấp, và hơn 27% so với nhân viên cốt lõi.

Nếu bạn nắm trong tay những người tuyệt vời và bạn không thể tưởng tượng nổi việc sống thiếu họ, vậy hãy đảm bảo tiền lương phản ánh giá trị của họ.

Đề nghị tạo cơ hội dìu dắt: Thế hệ trẻ không chỉ muốn có mức lương tốt; họ cũng muốn được chỉ dẫn và xây dựng quan hệ cá nhân, đó là cách tốt để giữ lại những người giỏi nhất. Theo khảo sát của Millennial Branding và American Express, 53% nhân viên trẻ cho biết mối quan hệ hướng dẫn sẽ giúp họ trở thành thành viên tốt hơn và làm việc năng suất hơn cho công ty.

Tạo lập cấu trúc minh bạch: Thế hệ trẻ là một thế hệ doanh nhân, đó là lý do vì sao sự minh bạch rất quan trọng. Nếu bạn cho phép nhân viên tìm hiểu cách thức hoạt động của công ty, họ sẽ cảm thấy gần gũi hơn với người dẫn dắt. Nhân viên trẻ của bạn không chỉ muốn là một bánh răng trong bộ máy; họ muốn biết hướng đi của công ty và cách họ có thể giúp bạn. Hãy nhìn vào các công ty như Buffer, nơi cho phép nhân viên biết mức lương và chính xác cách tính toán việc trả lương. Gỡ bỏ những bí ẩn rối rắm trong hệ thống phân cấp tổ chức, và bạn sẽ có nhân viên với động lực làm việc tốt hơn.

Hãy linh hoạt: Nhân viên trẻ không hiểu lý do tại sao họ cần phải có mặt tại văn phòng trong khi họ có thể làm một số (hoặc tất cả) các công việc của họ ở nhà. Tuy nhiên đây không phải là một yêu cầu cụ thể với họ. Hầu hết các nhân viên muốn lịch trình công việc linh hoạt hơn để đạt được sự cân bằng giữa công việc-cuộc sống tốt hơn và làm việc hiệu quả hơn. Thực tế, một cuộc khảo sát từ Mom Corps phát hiện ra rằng 51% nhân viên có kế hoạch tìm kiếm một công việc mới linh hoạt hơn trong vòng ba năm tiếp theo. Vì thế hệ trẻ sẽ dần trưởng thành và xây dựng gia đình, nhu cầu về sự linh hoạt trong công việc sẽ chỉ tăng lên.

Đáp ứng được nhu cầu về ý thức: Là một thế hệ, người trẻ muốn giúp đỡ và tạo sự khác biệt. Theo nghiên cứu Millennial Impact do Achieve tiến hành, ý thức xã hội của một công ty có thể trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nhân viên. 39% người trẻ nói chính sách tình nguyện của một công ty ảnh hưởng đến quyết định nộp đơn xin việc của họ, trong khi 55% nói rằng điều này ảnh hưởng đến quyết định nhận việc của họ. Nếu bạn đáp ứng được nhu cầu này, bạn sẽ xây dựng những cái “rễ” vững chắc trong cộng đồng địa phương và có thể thu hút và giữ những nhân viên thông minh, những người muốn dành thời gian tại một công ty có giá trị tương tự.

Tạo niềm vui: Một lý do tại sao các công ty như Google và Zappos liên tục bị ngập lụt với các ứng dụng. Đó là bởi, ngoài công việc, dường như nhân viên có nhiều niềm vui khác. Có một vài cách để nuôi dưỡng bầu không khí này: Bạn có thể phát triển một bầu không khí vui vẻ với những đặc quyền như bữa ăn trưa miễn phí hay bảng bóng đá, hoặc bạn có thể lập một kế hoạch đơn giản cho những hoạt động khiến nhân viên thích thú.

Một niềm vui nhỏ có thể giúp tất cả chúng ta vượt qua một ngày làm việc, và với những vị sếp có đầu óc, điều này có thể giúp giữ lại những nhân viên trẻ tốt nhất.

Nhân viên thế hệ trẻ không bao giờ biến mất, vì vậy đã đến lúc xem xét việc làm thế nào để khiến cho những nhân viên này hài lòng. Những nguyên tắc trên có thể hỗ trợ DN của bạn, làm cho nhân viên làm việc hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn và tốt hơn cho tổng thể công ty.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/ly-do-dn-phai-cham-soc-nhung-ke-huong-thu-luoi-bieng-va-thich-vo-ve-80131/

4. Tập cho nhân viên tự giải quyết xung đột 
Trong một bài báo về đề tài này đăng trên tạp chí SHRM vào năm 2005, tác giả Kelly Mollica đã đề cập: “Nếu nhân viên thường đến gặp bạn than phiền về người khác và nếu bạn cứ nghĩ việc giải quyết xung đột giữa họ là việc của mình thì đã đến lúc bạn phải biết nói lời từ chối. Thay vào đó, bạn cần tập cho các nhân viên khả năng tự giải quyết xung đột ở nơi làm việc”.



Theo tác giả, nếu cứ đứng ra giải quyết xung đột giữa các nhân viên thì sớm hay muộn, nhà quản trị cũng sẽ đứng về một bên nào đó. Từ đây, sự thiên vị, dù không cố tình, sẽ làm cho uy tín và quyền lực của nhà quản trị bị suy giảm. Do đó, điều quan trọng là nhà quản trị phải biết từ chối, đồng thời tập cho đội ngũ nhân viên dưới quyền mình biết tự giải quyết vấn đề, không còn thói quen mang chuyện cãi lộn lên trình sếp giải quyết nữa.

Tất nhiên, giai đoạn đầu để cho các nhân viên tự giải quyết xung đột có thể mất nhiều thời gian, nhưng nên kiên trì chấp nhận. Còn về lâu dài, nhà quản trị cần hướng tới xây dựng một môi trường mà ở đó, mọi nhân viên đều có khả năng ứng xử hợp lý, cũng có nghĩa là quản lý được xung đột. Bài báo trên đã nhắc đến tám điều mà nhà quản trị nên bắt đầu trong việc rèn luyện cho các nhân viên của mình khả năng kiểm soát tình thế và xử lý xung đột, đó là:

1. Không đưa các vấn đề “khẩn cấp” của nhân viên lên đầu danh sách công việc ưu tiên. Một số nhà quản trị mất quá nhiều thời gian cho việc giải quyết các vấn đề được nhân viên cho là khẩn cấp, nhưng thực ra lại không quan trọng vì những vấn đề đó không gắn với nhiệm vụ và mục tiêu của công ty.

2. Rèn luyện cho đội ngũ nhân viên kỹ năng giải quyết xung đột. Bắt đầu từ việc biết tự đánh giá bản thân, tự nhìn nhận vấn đề, tự kiềm chế, các nhân viên sẽ hiểu ra các loại xung đột, biết cách giải quyết từng loại xung đột và hiểu được cả điểm mạnh, điểm yếu của từng cách.

3. Truyền đạt cách thức giải quyết xung đột và yêu cầu các nhân viên vận dụng cho tốt. Các nhân viên được truyền đạt về nguyên tắc quản lý xung đột và chuỗi hành động cần thực hiện khi xảy ra xung đột trong nội bộ. Nếu xảy ra xung đột, nhà quản trị không can thiệp, chỉ yêu cầu các nhân viên vận dụng tốt những điều đã học được và chờ báo cáo kết quả giải quyết xung đột.

4. Chỉ can thiệp khi sẽ phải dùng quyền lực để ra quyết định. Nếu hành vi do một nhân viên gây ra sự bất bình cho cả tập thể thì các thành viên trong tập thể sẽ góp ý kiến giải quyết, không cần sự can thiệp của nhà quản trị. Chỉ trong trường hợp cần có sự quyết định của người lãnh đạo (ví dụ cả tập thể thống nhất loại bỏ một cá nhân) thì nhà quản trị xem xét biên bản họp giải quyết xung đột, sau đó mới can thiệp để nắm rõ tình thế và từ đó đưa ra quyết định hợp lý cuối cùng.

5. Xây dựng nếp văn hóa coi trọng việc quản lý xung đột. Nên xem điều này là một trong những năng lực cốt lõi của mọi nhân viên. Nhà quản trị phải nhìn nhận và đánh giá kịp thời những nỗ lực tự giải quyết xung đột thành công của các nhân viên dưới quyền.

6. Nhắc nhở nhân viên tập trung vào hành vi chứ không phải là vào nhân cách. Việc nhắc nhở này làm cho các nhân viên không đi đến kết luận sai về nhân cách hoặc có các phán đoán chủ quan về đồng nghiệp của mình.

7. Thực hiện chính sách khuyến khích nhân viên đoàn kết, hỗ trợ nhau trong công việc. Công khai chính sách khuyến khích các nhân viên thắt chặt tình đồng nghiệp, giúp nhau vượt khó và tự giải quyết những khúc mắc mà từ đó có thể chuyển thành xung đột. Nhà quản trị luôn theo dõi và đề cao những cá nhân sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần.

8. Khi xung đột vượt qua ranh giới một bộ phận (hoặc một nhóm). Nếu xung đột nảy sinh giữa hai bộ phận trong doanh nghiệp, lãnh đạo từng bộ phận cũng yêu cầu các nhân viên dưới quyền tự tìm cách (hoặc hướng) giải quyết, sau đó hai nhà quản trị hai bộ phận ngồi lại rà soát từng kiến nghị của hai bộ phận để thống nhất biện pháp xử lý xung đột theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp.

Không phải khi áp dụng đủ tám điều nêu trên thì tại nơi làm việc sẽ không còn xung đột, nhưng mọi xung đột nếu xuất hiện sẽ được giải quyết êm thấm, không gây ra tình trạng ồn ào, lộn xộn kéo dài. Cái lợi “nhãn tiền” khác là nhà quản trị không phải tổn hao trí lực cho những chuyện nhỏ, tập trung được thời gian và công sức của mình cho những nhiệm vụ quan trọng hơn.




Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/tap-cho-nhan-vien-tu-giai-quyet-xung-dot-80367/

5. Quản trị nhân sự hiệu quả thời khủng hoảng
Thay vì cắt giảm, trong khủng hoảng, các công ty nên tiếp tục đầu tư khôn ngoan vào nhân lực. Nếu nhân lực chán nản, mất lửa chiến đấu, không gắn kết sẽ là những tác nhân làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng.

Để quản trị hiệu quả nhân lực trong doanh nghiệp thời khủng hoảng, cần thực hiện ưu tiên các bước sau đây:

Bước 1: Bản thân cấp lãnh đạo cao nhất trong công ty cần thấu hiểu, cam kết và hành động theo hướng đầu tư hiệu quả vào công tác nhân sự trong thời kỳ khủng hoảng. Thiếu những hỗ trợ thiết thực về tài chính, tinh thần, cam kết hành động từ cấp CEO, quản lý nhân sự chắc chắn thất bại.

Bước 2: Cấp lãnh đạo tại các phòng ban chức năng khác cần phải áp dụng triệt để tinh thần tiếp cận chức năng nhân sự như trong bước 1 phát động từ CEO. Bản thân các cấp lãnh đạo cần phải nắm được công tác nhân sự là thuộc trách nhiệm của họ. Một lý do quan trọng kế tiếp, quản lý nhân sự có tốt thì đó chính là cách duy nhất có thể giúp các cấp quản lý trực tiếp vượt qua khủng hoảng. Trong khủng hoảng, các trưởng phòng, lãnh đạo các cấp cần phải gắn kết nhân sự hơn bao giờ hết để vận hành thật hiệu quả bộ máy nhân sự.

Bước 3: Có một nghịch lý rằng phòng nhân sự trong công ty là nơi chịu trách nhiệm quản lý tài sản lớn nhất "nguồn nhân lực" nhưng bản thân phòng nhân sự là nơi nhận được ít đầu tư và nâng cấp năng lực nhất trong công ty. Các cấp lãnh đạo và quản lý cần thấu hiểu để có được nguồn nhân lực là tài sản lớn nhất, công ty cần phải đầu tư thật sự cho bộ phận nhân sự.

Bước 4: Để các bước trên hiệu quả, phòng nhân sự cần có các hoạt động truyền thông nhằm giải thích rõ lý do, nguyên nhân và kết quả các bước công việc tiếp theo cho toàn bộ công ty hiểu rõ. Một thông điệp rõ ràng cần gửi tới nhân viên đó là trong khủng hoảng công ty và nhân viên cần cộng hưởng để cả hai bên cùng vượt khó.

Bước 5: Công tác nhân sự đầu tiên trong thời kỳ khủng hoảng đó chính là xác định rõ các cấp độ nhân viên: Kim Cương, Vàng, Bạc, Đồng và Chì. Khủng hoảng là thước đo rõ nhất năng lực nhân viên và tinh thần chiến đấu. Trong lúc thị trường tốt rất khó phân biệt các mức độ nhân viên như Bạc, Đồng và Chì. Trong thời gian khủng hoảng, các nhân viên Đồng và Chì rất dễ dàng phân biệt và phát hiện ra. Quan trọng nhất đó là việc sử dụng nhân viên Đồng, Chì hay hoàn toàn không cần sử dụng?

Bước 6: Thực hiện công tác đánh giá lại nhân viên để giúp họ thấy được các mặt cần cải thiện và các kế hoạch cụ thể khắc phục các vấn đề đó. Đánh giá giữa kỳ rất quan trọng vì công tác đánh giá giữa kỳ nhằm giải quyết vấn đề tồn tại. Nếu chỉ đánh giá cuối năm thì sẽ không có cơ hội sửa chữa sai lầm nữa. Trong thời gian khủng hoảng, các công tác đánh giá giữa kỳ cực kỳ quan trọng và cần phải thực hiện kỹ lưỡng và thấu đáo giữa trưởng phòng và bộ phận nhân sự, đặc biệt là các trưởng phòng, quản lý bộ phận.

Bước 7: Trong thời gian khủng hoảng, tính kỷ luật cần phải được nêu lên hàng đầu. Nếu tại thời kỳ phát triển "hoàng kim", các sai lệch về kỷ luật có thể không gây ảnh hưởng nhiều. Trái lại, trong lúc khủng hoảng, công ty cần có một bàn tay sắt để đảm bảo mọi người tuân thủ và thực hiện đúng theo ý định của CEO và lãnh đạodoanh nghiệp.

Bước 8: Đặc trưng của khủng hoảng chính là sự khan hiếm của tài nguyên. Nhằm khắc phục vấn đề đó, các rào cản nội tại như quy trình không hiệu quả, mâu thuẫn cá nhân, cơ cấu không hợp lý cần phải được mổ xẻ và xử lý triệt để đảm bảo hiệu quả sử dụng tài nguyên tốt nhất trong công ty. Các khúc mắc trong các phòng ban với nhau cần xử lý ngay và kiên quyết trên quan điểm lợi ích doanh nghiệp là cao nhất. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp lợi ích của phòng ban được đặt nặng hơn lợi ích của doanh nghiệp. Người thắng cuộc không phải doanh nghiệp mà là quyền lợi của phòng ban có tiếng nói mạnh nhất. Góp phần cho khủng hoảng trầm trọng hơn chính là thứ tự ưu tiên giữa các phòng ban, bộ phận được CEO đặt tỷ lệ % không cân đối và hợp lý đối với chiến lược phát triển kinh doanh của công ty và các biến động trên thị trường kinh doanh có nguồn gốc từ cạnh tranh, qui định của nhà nước, nhu cầu khách hàng thay đổi.

Bước 9: Tinh thần nhân viên cần được phát động tối đa trong thời kỳ khủng hoảng. Lý thuyết và thực tế đã chứng minh năng lượng tinh thần sẽ tạo ra những kết quả đáng ngạc nhiên. Các ví dụ trong phần trước đã nêu một phần nào những cách tiếp cận thực tế nhưng làm giảm sút năng lượng tinh thần của nhân viên. Phòng nhân sự cần phải thực hiện các công tác đào tạo team building, khen thưởng kịp thời, các chính sách quan tâm tới nhân viên.

Một ưu điểm của lao động Việt Nam đó chính là chúng ta quan tâm tới sự chân thành. Công ty gặp khó khăn nhưng CEO, ban lãnh đạo vẫn tằn tiện tạo ra những quyền lợi nhỏ bé cho nhân viên. Đối với người Việt Nam, những hành động đó có ý nghĩa rất lớn chứ không phải tiền nhiều hay là ít. Giống như vị tướng cầm quân, thua một trận còn có cơ hội thắng chung cuộc nhưng nếu thua nhân tâm binh sỹ thì chắc chắn thất bại.

Bước 10: Trong khủng hoảng, công ty cần thực hiện việc "thay máu" nhân viên triệt để thông qua ba nhóm biện pháp như sau:

- Tuyển dụng nhân viên trẻ và đào tạo phát triển nhằm thay thế các nhân viên các cấp thấp không hiệu quả.

- Thực hiện chương trình đào tạo và nâng cấp cán bộ quản lý cấp trung đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai, tác nghiệp.

- Thực hiện việc tuyển dụng và đưa về các nhân viên phù hợp. Trong thực tế, thời gian khủng hoảng là lúc dễ dàng tuyển dụng các nhân viên giỏi từ các công ty đối thủ do họ không có các kế hoạch nhân sự trong khủng hoảng đầy đủ và hệ thống như doanh nghiệp chuyên nghiệp ưu tiên các bước thực hiện này.

Để thực hiện bước 10, doanh nghiệp cần phải kiên quyết thải loại các nhân viên Đồng và Chì nếu như họ không thực tâm cố gắng phát triển cá nhân và tự phấn đấu trong các chương trình hỗ trợ đào tạo và phát triển cá nhân của công ty. Doanh nghiệp cần xác định các nhân viên Đồng và Chì còn ở lại công ty ngày nào, công ty còn mất tiền lương và mất những khoản chi phí cơ hội khi họ là những tác nhân cản trở hiệu quả của toàn hệ thống như trong bước 8 có đề cập. Ngoài ra các nhân viên Đồng và Chì này là những tác nhân âm làm giảm năng lực tinh thần và ý chí chiến đấu của các nhân viên khác trong công ty. Do đó việc thải loại Đồng và Chì là bắt buộc và công ty phải dành một khoản chi phí để thực hiện công tác.

Các công ty trong thời gian khủng hoảng cần phải có những bước đi táo bạo và mới mẻ trong công tác quản lý doanh nghiệp nói chung và công tác nhân sự nói riêng. Các CEO cần tiếp cận nhân sự trên khía cạnh đầu tư hiệu quả trong khủng hoảng để nhân sự có khả năng, năng lực, ý chí chiến đấu vận hành doanh nghiệp cùng CEO thoát khỏi khó khăn. Trong khủng hoảng, một người CEO biết đầu tư đúng cách, đúng chỗ, đúng phương pháp sẽ là người cầm lái thành công con tàu doanh nghiệp khỏi vùng bão xoáy khủng hoảng.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/quan-tri-nhan-su-hieu-qua-thoi-khung-hoang-77580/

6.Cách tăng động lực cho nhân viên làm việc có hiệu quả
1. Giúp nhân viên cảm thấy họ đang làm những việc có ý nghĩa.

2. Giao tiếp hiệu quả và chia sẻ thông tin
Bạn cũng phải thường xuyên chia sẻ những thông tin mới để đảm bảo rằng nhân viên của bạn đưa ra quyết định tốt.
Bạn luôn luôn phải cho nhân viên biết cách mà tổ chức đang tiến tới đạt mục tiêu. Thiết lập KPIs (các chỉ số đánh giá kết quả thực hiện công việc) và thông báo kết quả KPI hàng tháng sẽ cho phép bạn đạt được điều này.

3. Tạo môi trường làm việc thân thiện.
- Có thể sử dụng những bữa ăn nhẹ trong một khoảng thời gian làm việc.
- Bố trí đèn để ánh sáng trong văn phòng hợp lý nhất. Tốt nhất sử dụng đèn huỳnh quang mang lại ánh sáng trắng tránh gây buồn ngủ và mỏi mắt.
- Đặt lên một bảng thông báo, nơi mọi người có thể gửi hình ảnh, thẻ sinh nhật, và bất kỳ thông tin cá nhân liên quan mà họ muốn chia sẻ với các đồng nghiệp của họ. Điều này có thể khiến họ mỉm cười bất cứ lúc nào. Bạn cũng có thể gửi một thông báo nhỏ hoặc viết thành tựu của một người trên một tấm bảng cho cả văn phòng để xem.
- Thỉnh thoảng tổ chức đi du lịch 1 năm/1 lần.
- Có quà nho nhỏ trong ngày sinh nhật của nhân viên.

4. Cho và nhận thông tin phản hồi kết quả làm việc liên tục

5. Tin - và bộc lộ - sự tin tưởng.
- Cho nhân viên của bạn quyền tự ra quyết định.

6. Lắng nghe, tập trung, và tôn trọng nhu cầu của nhân viên

7. Ghi nhận những nhân viên xứng đáng

8. Cơ hội thăng tiến phát triển nghề nghiệp.
Một nhân viên giỏi thường có tinh thần cầu tiến. Họ luôn khao khát tìm kiếm cơ hội thăng tiến phát triển nghề nghiệp của mình, vì họ quan niệm rằng: "không tiến ắt lùi". Nắm bắt nhu cầu này, bạn nên vạch ra những nấc thang vị trí nhảy vọt kế tiếp cho họ, đồng thời lên chương trình đào tạo phù hợp đi kèm.


Dĩ nhiên, giải pháp đào tạo bao giờ cũng tốn kém, bạn cứ trăn trở liệu họ có ở lại với mình không sau khi mình đã đầu tư quá nhiều? Vấn đề không phải là nên hay không nên đào tạo, mà là bạn phải biết chọn đúng người để đầu tư, dựa vào quá trình cống hiến của họ, phẩm chất đạo đức, và cam kết của cả hai bên sau đào tạo.

9. Đãi ngộ công bằng.
Trước tiên, bạn phải trả một mức lương mà các nhân viên cảm thấy hợp lý. Thứ hai, bạn phải trả thêm cho các công việc ngoài giờ. Điều này có nghĩa là bạn thiết lập những kỳ vọng cho mức lương cơ bản trong khi cũng có các khoản tiền thưởng và xác định rõ mục tiêu. Điều này sẽ buộc nhân viên phấn đấu để đạt được các mục tiêu mà bạn đã vạch ra.

10. Quản lý, nhưng không quản lý sát sao
Nhân viên không thích bị quản lý sát sao. Điều quan trọng là phân biệt sự khác nhau giữa điểm danh và kiểm soát nhân viên của bạn.
Tương tự như vậy, khi quản lý, không yêu cầu chi tiết làm thế nào để hoàn thành một dự án. Hãy nhớ rằng, các nhân viên không thể phát triển và đạt được những kỹ năng mới nếu bạn nói với họ chính xác làm cái gì cho tất cả các dự án mà họ làm. Họ cần một cảm giác tự chủ để cảm nhận rằng họ thành công.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/cach-tang-dong-luc-cho-nhan-vien-lam-viec-co-hieu-qua-82581/

7. 12 cách để thực hiện đào tạo nhân viên trong công việc hàng ngày
 Mọi người thường nghĩ việc đào tạo nhân viên của doanh nghiệp nhất thiết phải thực hiện một cách bài bản là mở lớp, giảng lý thuyết sau đó mới thực hành. Nhưng đó là một quan điểm cũ, cách tốt nhất để đào tạo công việc cho nhân viên của bạn chính là đào tạo thông qua công việc hàng ngày.

Mọi nhân viên đều mong đợi những cơ hội để họ có thể học hỏi, phát triển kiến thức cũng như kỹ năng trong công việc mà không phải đánh đổi bằng thời gian làm việc hay thời gian riêng tư của họ.

Và bạn có thể sử dụng phương thức đào tạo thông qua công việc hàng ngày để thực hiện các mong muốn đó và có thể biến nó trở thành nhu cầu, thông lệ hay thậm chí thành văn hóa của doanh nghiệp. Không giống như đào tạo ngoài thời gian làm việc, bạn có thể mang tới một hình thức đào tạo đầy hứng thú cho các nhân viên của bạn với hiệu quả không thua kém các hình thức đào tạo của các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo chuyên nghiệp.

Sau đây là 12 cách đào tạo thông qua công việc hàng ngày sẽ tiết kiệm cho bạn rất nhiều thời gian, chi phí cũng nhưng tận dụng được các nguồn lực sẵn có và hơn hết, nó gắn liền với công việc và đem lại hiệu quả rất cao. Nếu bạn chưa từng thử, hay thử nghiệm tại doanh nghiệp của bạn và xem hiệu quả mà nó đem lại, bạn sẽ ngạc nhiên đấy.
1. Kèm cặp nhân viên

Có thể nói quan hệ kèm cặp nhân viên giữa người quản lý và nhân viên dưới quyền là một cách thức mang lại kết quả win – win cho tất cả các bên liên quan: nhân viên, người kèm cặp và doanh nghiệp.

Kèm cặp là một hình thức đào tạo trong công việc hết sức thực tế và hiệu quả thông qua việc theo dõi, hướng dẫn và kịp thời hỗ trợ cho nhân viên của nhà quản lý – người kèm cặp để kịp thời truyền tải những kinh nghiệm quý báu, hoàn hiện các kỹ năng cốt lõi và nâng cao chuyên môn cho nhân viên phục vụ công việc hiện tại cũng như xây dựng nền tảng cho sự phát triển của nhân viên.

Việc kèm cặp từ lãnh đạo hay bất cứ nhân viên dày dạn kinh nghiệm nào cho các nhân viên khác chính là chìa khóa để phát triển nhân lực trong nội tại doanh nghiệp.
2. Định kỳ tổ chức đào tạo nội bộ tổng thể

Đào tạo nội bộ tổng thể là hình thức đào tạo tập trung cho toàn bộ nhân viên doanh nghiệp của bạn trong một thời gian ngắn có thể với sự tham gia của các tác nhân bên ngoài (các chuyên gia tư vấn, dịch vụ đào tạo hay đối tác của bạn) để xây dựng các mối quan hệ phối hợp làm việc cũng như các nhóm làm việc hiệu quả trong doanh nghiệp của bạn.

Về cơ bản, doanh nghiệp của bạn luôn có nhiều bộ phận, và việc phối hợp trong công việc là điều bắt buộc, với hình thức đào tạo này, bạn đang xây dựng các mối liên hệ gắn bó, các cách thức phối hợp cho nhân viên của bạn hay đơn giản hơn là phát hiện những vấn đề nội tại cản trở sự phát triển của tập thể.

Việc đào tạo theo hình thức này là tương đối phức tạp và cần những chuyên gia có kinh nghiệm cũng như kỹ năng phù hợp, nếu bạn không đủ khả năng, hãy tìm kiếm các chuyên gia từ bên ngoài.
3. Xây dựng một văn hóa đọc tại nơi làm việc

Bạn đau đầu tìm kiếm một giải pháp đơn giản để truyền tải kiến thức, kinh nghiệm làm động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân viên? Hãy xây dựng văn hóa đọc tại doanh nghiệp, hãy tìm kiếm một nhóm nhân viên tình nguyện để bắt đầu với một số quyển sách liên quan đến công việc mà họ muốn đọc, để họ cùng nhau đọc, tóm tắt lại nội dung, thuyết trình trước lãnh đạo và đồng nghiệp hay thậm chí viết thành các bài báo nội bộ, phát triển dần đến khi nó trờ thành một nét văn hóa của doanh nghiệp. Dần dần bạn sẽ thấy không biết tại sao mọi người đều ham đọc và trao đổi, kiến thức của họ tăng lên, và hơn thế kinh nghiệm, kỹ năng sẽ được học nhanh hơn, bạn sẽ nhanh chóng thấy được sự tiến bộ từ họ.

4. Biến người được đào tạo thành người đi đào tạo

Trong một năm có thể doanh nghiệp của bạn sẽ có những “học bổng” để một vài nhân viên có thể tham gia các khóa học nâng cao trình độ bên ngoài, hay đơn giản chỉ là tham dự một lớp nâng cao kỹ năng cơ bản. Nếu bạn không tận dụng họ, khoản đầu tư đó thực sự sẽ không hiệu quả.

Hãy để họ trở thành những giảng viên, truyền đạt lại chính những gì họ đã được học cho đồng nghiệp hay thậm chí cả lãnh đạo. Có thể họ sẽ mang những ý tưởng sáng tạo từ bên ngoài để truyền lại, hay mang đến những phương thức hiệu quả hơn để mở mang kiến thức cho bản thân doanh nghiệp, hay khiêm tốn hơn, họ được thử thách thêm một lần nữa để khẳng định “học bổng” bạn đã cấp là không hề vô ích, họ đã nâng cao được trình độ.

Về hiệu quả chi phí thì việc để một nhân viên được đi đào tạo bên ngoài về truyền đạt lại, truyền tải lại hay đào tạo lại các nhân viên khác hay chính bạn là một hình thức tiết kiệm chi phí không hề nhỏ, chẳng hạn thay vì phải cấp 50 “học bổng” để đào tạo đội ngũ nhân viên, bạn chỉ phải bỏ ra 1 mà vẫn thu lại được hiệu quả cho 50 người, thêm vào đó thời gian làm việc bị mất đi không hề lớn về tổng thể.

Tuy nhiên hình thức đào tạo này yêu cầu người được bạn cử đi đào tạo cần là người có tố chất, khả năng để có thể tiếp thu những tinh hoa từ các sự kiện bên ngoài. Việc cử đi đào tạo chính là cơ hội để bạn phát triển một nhân viên về kiến thức, kỹ năng và cũng là cách bạn tạo ra một chuyên gia đào tạo mới cho doanh nghiệp của bạn.
5. Đề bạt

Việc nâng cao vị trí của một nhân viên thông qua đề bạt, thăng chức có thể coi là một hình thức đào tạo. Vì thăng chức chính là động lực để nhân viên phát triển bản thân, để được thăng chức, nhân viên sẽ có động lực để học hỏi nhiều hơn, rèn luyện nhiều hơn sao cho phù hợp với vị trí mới.

Thậm chí cả sau khi thăng chức thì họ càng phải học hỏi nhiều hơn, và khi ấy bạn sẽ cần đào tạo họ nhiều hơn. Hơn thế, việc nâng vị trí của họ lên một tầm cao mới chính là việc bạn đang đào tạo họ những kiến thức và kỹ năng mới, mở rộng con đường sự nghiệp cũng như tố chất của họ.
6. Luân chuyển

Luân chuyển là một hình thức đào tạo thông qua việc thay đổi tính chất công việc và môi trường làm việc cho nhân viên, giúp họ có được các trải nghiệm khác nhau trong việc xác định con đường sự nghiệp sau này. Việc luân chuyển mang lại cho một nhân viên cũ các kinh nghiệm mới, trải nghiệm mới tại một nơi làm việc mới để họ có cơ hội tự học hỏi, hoàn thiện các kỹ năng còn thiếu sót.

Việc luân chuyển sẽ giúp cho nhân viên có được các cái nhìn mới hơn về tổng thể trong doanh nghiệp, mở rộng các mối quan hệ đồng nghiệp, có được những kinh nghiệm sâu sắc hơn và phát triển các tốt chất tiềm ẩn. Đây là hình thức được rất nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới áp dụng thường xuyên để tìm ra những nhân tài thực sự cho các vị trí quản lý trong tương lai.



7. Luân chuyển ngang

Luân chuyển ngang là việc bạn thuyên chuyển các các nhân tới một vị trí khác có tính chất công việc, vai trò tương đương nhưng với môi trường hoàn toàn khác biệt, ví dụ: công ty bạn có hai công ty con, đều có phòng thiết kết sản phẩm nhưng thiết kế 2 sản phẩn khác nhau, bạn có thể luân chuyển nhân viên của 2 phòng này cho nhau với các đãi ngộ tương đương và chức vụ tương đương chỗ cũ.

Hình thức này cung cấp một cơ hội để nhân viên thể hiện được khả năng học hỏi, thích nghi khi môi trường thay đổi như thế nào, nó giúp bạn phát triển cho nhân viên khả năng nhạy bén khi môi trường thay đổi và giúp họ mở rộng, thành thục hơn các kỹ năng hiện tại.
8. Đào tạo trong bữa trưa

Đây là một hình thức khá mới mẻ và hiện đại nhưng vô cùng hiệu quả (nó thường được gọi là phương pháp Brown bag lunches hay Ăn trưa và học hỏi), đơn giản đó chỉ là việc bạn đi ăn trưa cùng nhân viên, đưa ra một chủ đề bất kỳ, về cuộc sống hay công việc đều được, thông qua đó bạn để mọi người trò chuyện, phát biểu thậm chí đùa cợt để truyền tài thông điệp về một kỹ năng, kiến thức hay đơn giản là một kinh nghiệm nào đó. Còn gì dễ nhớ hơn một câu chuyện vui có ý nghĩa giáo dục, một kinh nghiệm hay trong bữa trưa thân mật, vui vẻ.

Phương pháp này là cách rất hiệu quả khi bạn muốn gần gũi nhân viên, thúc đẩy động lực làm việc cho họ, hiểu được hoàn cảnh của họ cũng như truyền tải các kinh nghiệm của bạn cho họ. Một cách thiết thực hơn đây là phương pháp mà bạn giúp nhân viên cân bằng cuộc sống – công việc, với bất cứ chủ đề nào trong bữa trưa, bạn đang đem lại một sự thư giãn và vui vẻ cho nhân viên và đồng thời không quên đào tạo họ.

9. Cầm tay chỉ việc

Cầm tay chỉ việc thông thường khiến bạn nghĩ đến việc đào tạo cho các nhân viên mới, tuy nhiên với mọi loại hình tổ chức, cơ cấu tổ chức và các quy trình, thủ tục, việc cầm tay chỉ việc luôn là ưu tiên được các doanh nghiệp lựa chọn trong việc đào tạo nhân viên.

Khác với việc kèm cặp chỉ là việc theo dõi, hướng dẫn và hỗ trợ thì cầm tay chỉ việc là việc một nhân viên kinh nghiệm dày dạn sẽ cùng làm việc với một nhân viên khác, vừa kèm cặp nhưng lại vừa làm cùng một công việc như là một ví dụ cho nhân viên ít kinh nghiệm hơn kia.

Việc đào tạo theo hình thức này càng sớm và càng đều đặn bao nhiêu thì nhân viên của bạn càng nhanh phát triển, nắm bắt được công việc hiệu quả sớm bấy nhiêu. Ngoài việc sử dụng các nhân viên có kinh nghiệm, bạn cũng có thể thiết kế các tài liệu minh họa, video hướng dẫn sinh động để sử dụng phối hợp với cách truyền thống.
10. Huấn luyện

Huấn luyện là việc đào tạo chuyên biệt để phát triển một kiến thức, kỹ năng cụ thể nhằm mục đích phát triển khả năng chuyên biệt trên một lĩnh vực của nhân viên, có thể ví dụ: nhân viên sales sẽ được huấn luyện kỹ năng bán hàng, nhân viên chăm sóc khác hàng được huấn luyện kỹ năng chăm sóc khách hàng, nhân viên quản lý cấp trung sẽ được huân luyện về kỹ năng quản lý công việc ở mảng cụ thể, …

Huấn luyện có điểm tương tự như cầm tay chỉ việc là nó gắn với một hay một vài kỹ năng, công việc cụ thể nhưng nó khác sở chỗ là nó chỉ chuyên về hình thành và phát triển kỹ năng cụ thể phục vụ cho một hoạt động cụ thể, không phải là phát triển khả năng làm việc tổng thể.
11. Dự khán công việc (Job Shadowing )

Dự khán công việc là việc một nhân viên tạm thời tham gia vào một nhóm làm việc tại một vị trí khác trong một thời gian ngắn để học hỏi các kiến thức, kỹ năng từ nhóm làm việc đó thông qua việc quan sát và tham gia làm việc cùngvới những những người khác trong nhóm. Hình thức này thường áp dụng cho việc đề bạt nhân viên nhằm đào tạo cho họ các kỹ năng mới trước khi đề bạt.

Việc dự khán công việc cũng giúp cho việc hình thành các phương án dự phòng trong trường hợp có rủi ro về mặt nhân sự, các nhân viên dự khán trở thành các phương án thay thế nhanh chóng khi các nhân viên chuyên trách không thể tiếp tục đảm nhiệm vị trí đó, họ sẽ nhanh chóng bắt kịp công việc và tiến độ mà không cần đào tạo lại nhiều.
12. Đào tạo trực tuyến

Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, việc mọi nhân viên đều có thể làm việc trực tuyến là cơ hội để bạn ứng dụng các hình thức đào tạo trực tuyến và tận dụng lợi thế từ thời đại công nghệ số. Bạn có thể đem tất cả các hình thức đào tạo nêu trên áp dụng trên mạng Internet, đồng thời có rất nhiều công cụ đào tạo trực tuyến hoàn toàn miễn phí và đơn giản để bạn áp dụng, hơn nữa nó có thể tiến hành bất cứ đâu, bất cứ lúc nào nên bạn có thể đảm bảo về thời gian làm việc hiệu quả.

Có thể ví dụ: bạn có thể lập một forum để mọi người trao đổi, hướng dẫn nhau, bạn có thể đăng các video để hướng dẫn, bạn có thể tạo nên một trang web tương tác thời gian thực để huấn luyện hay bạn có thể vừa ăn trưa vừa trò chuyện với mọi người thông qua video conference.

Tất cả đều nói lên bạn hãy linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong việc đào tạo thông qua công việc cho nhân viên của bạn. Bạn sẽ gặt hái những thành quả tuyệt với từ những phương pháp tưởng chừng như hết sức đơn giản ấy.


Phạm Thế Mạnh- Theo Infonet


Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/12-cach-de-thuc-hien-dao-tao-nhan-vien-trong-cong-viec-hang-ngay-79625/

8. Luân chuyển công việc - công cụ phát triển nhân sự
 Khi được hỏi lý do nào khiến một người có thể làm việc cả đời cho một công ty, một cựu lãnh đạo cao cấp của một tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động thành công tại Việt Nam, lấy bản thân ra làm ví dụ cho câu trả lời của mình.

Ông nói, họ (công ty) biết cách làm cho tôi luôn cảm thấy hứng thú trong công việc, họ không để cho tôi kịp chán, họ luân chuyển tôi sang một công việc mới trước khi tôi chán công việc cũ. Cứ như vậy, tôi đã hăng say làm việc cùng công ty hơn 35 năm kể từ khi ra trường cho đến ngày về hưu. Chính sách hoán đổi hay luân chuyển trong công việc (rotation) đã đưa tôi qua nhiều vị trí, nhiều quy mô công ty, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ với những nét văn hóa khác nhau. Chính điều này làm tôi luôn cảm thấy mới lạ, thích thú và say mê trong công việc.

Quả vậy, chính sách hoán đổi, luân chuyển được các công ty đa quốc gia ứng dụng rất nhiều trong công việc. Một người thường không cố định ở một vị trí, một công việc quá lâu. Nhân sự sẽ được hoán đổi giữa các phòng ban, giữa các công ty thành viên, giữa các quốc gia với nhau. Điều này tạo sự hứng khởi và động lực cho tổ chức phát triển. Bản chất con người luôn hướng đến sự mới lạ. Chính yếu tố mới là động lực phát triển cho cả xã hội. Ôtô, xe máy, quần áo, đồ dùng gia đình, kể cả các mặt hàng công nghiệp luôn phải thay đổi vể kiểu dáng, mẫu mã cùng công năng…

Thậm chí ngay trong lĩnh vực tình cảm, các chuyên gia tâm lý cũng khuyên các cặp vợ chồng phải luôn biết làm mới bản thân, làm mới tình cảm để giữ cho cuộc sống vợ chồng luôn hấp dẫn và hạnh phúc… Tìm những điều mới mẻ là nhu cầu của con người, vì thế con người luôn hứng khởi trước những gì mới lạ.

Trong công việc cũng vậy, quả là tẻ nhạt nếu như quanh năm suốt tháng bạn phải làm hoài một công việc, chưa làm đã biết được các kịch bản sẽ xảy ra như thế nào… Chính yếu tố tẻ nhạt này sẽ dẫn đến sự buồn chán trong công việc và làm cho con người bớt đi tính sáng tạo, sự hứng khởi trong công việc và khi công việc không còn sự sáng tạo, không còn “lửa”, không còn “máu” thì chắc chắn kết quả khó có thể ở mức cao được.

Lợi ích mang lại từ việc hoán đổi hay luân chuyển trong công việc đã rõ như vậy, thế tại sao nhiều công ty, đặc biệt là các công ty của Việt Nam lại chưa mấy mặn mà áp dụng chính sách này? Bởi lẽ thực tế khi áp dụng không đơn giản.

Đầu tiên, để có thể dễ dàng áp dụng việc hoán đổi hay luân chuyển trong công việc, thì hệ thống quản lý của công ty phải được chuẩn hóa ở một mức độ nhất định. Ở đây chúng ta đừng băn khoăn giữa yếu tố cá nhân và yếu tố hệ thống. Đúng là trong tổ chức luôn cần những cá nhân mạnh và vai trò của cá nhân sẽ vẫn luôn tồn tại trong bất kỳ tổ chức nào.

Thế nhưng, để tổ chức có thể hoạt động tốt và ít phụ thuộc vào vai trò của một cá nhân nào đó, tổ chức đó phải được xây dựng trên một hệ thống, phải có các quy trình, các hướng dẫn công việc để một người mới đến có thể dễ dàng gắn kết vào tổ chức đó.

Cá nhân mạnh hay yếu sẽ làm hệ thống vận hành mang lại hiệu quả cao hay thấp chứ không phải làm hệ thống chạy hay đứng yên. Ở các công ty đa quốc gia, vai trò của hệ thống luôn mạnh hơn vai trò các cá nhân, nhưng ngược lại ở một số công ty Việt Nam, nhất là các công ty mang tính gia đình, thì vai trò của một vài cá nhân là rất lớn, và khi đó sẽ rất khó thực hiện việc hoán đổi hay luân chuyển công việc, vì gần như sự vận hành của bộ máy phụ thuộc vào một vài cá nhân “quan trọng”. Khi đó sự thay thế các cá nhân này không khéo sẽ làm bộ máy ngừng hoạt động.

Việc phân rõ sơ đồ tổ chức và các bảng mô tả công việc cũng là điều kiện thuận lợi cho những người mới dễ hòa nhập và thực hiện công việc của mình. Có một vài ý kiến cho rằng việc công bố sơ đồ tổ chức là không quan trọng, nhất là trong giai đoạn bổ sung và thay đổi nhân sự.

Theo yêu cầu của bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2000 thì sơ đồ tổ chức là tài liệu bắt buộc và phải được phổ biến cho các thành viên của tổ chức nắm rõ. Nếu đã là tài liệu thì nó dễ dàng được cập nhật và nâng cấp, lên đời. Sơ đồ tổ chức có thể được thay đổi đôi ba lần trong vài tháng tùy thuộc vào tình hình tuyển dụng nhân sự, điều này tuy không phải là tốt nhất nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn cảnh các thành viên trong công ty luôn ở trạng thái đoán xem bộ phận mình thuộc phòng ban nào, phải báo cáo cho ai…

Có thể đối với các thành viên cũ, việc này là đơn giản vì đã quen như vậy, nhưng đối với những người mới, việc “đoán” này không đơn giản chút nào. Vì vậy chúng ta đừng ngại ngần trong việc phân rõ và công bố sơ đồ tổ chức cũng như hiệu chỉnh ngay mỗi khi có sự thay đổi. Điều này làm tiết kiệm thời gian và giúp các thành viên trong tổ chức tương tác với nhau thuận lợi hơn.

Và điều cuối cùng cần lưu ý là phải xây dựng được văn hóa hoán đổi, luân chuyển trong toàn hệ thống. Đừng chỉ dùng chiêu thức này khi cần thay đổi nhân sự, hãy sử dụng nó như một công cụ phát triển nhân sự. Hãy để cho mọi người hứng khởi với việc khám phá, thực hiện các công việc mới. Làm thế nào để mỗi lần hoán đổi hay luân chuyển công việc là một lần đào tạo, nâng cấp trình độ cho đội ngũ quản lý của mình. Hãy làm cho tất cả đội ngũ hào hứng thực sự với việc này, coi đó là cơ hội, là phần thưởng cho sự phấn đấu nỗ lực của bản thân.

Hãy tạo cho những người hoán đổi hay luân chuyển công việc cảm giác được khám phá, chinh phục thách thức, cảm giác thăng tiến, phát triển nghề nghiệp. Nếu làm được điều này, chúng ta sẽ luôn có nguồn lực nội bộ dự phòng cho sự phát triển của doanh nghiệp.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/luan-chuyen-cong-viec-cong-cu-phat-trien-nhan-su-78063/

9. Chi phí đào tạo, ai sẽ trả? 

Một trong những vấn đề về lao động gây đau đầu đối với các doanh nghiệp đó là yêu cầu người lao động bồi hoàn chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nếu không thực hiện đúng hoặc đầy đủ cam kết với doanh nghiệp.

Trên thực tế, do mặt bằng đào tạo ở Việt Nam còn yếu kém, các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao thường gửi nhân viên chủ chốt người Việt Nam ra nước ngoài để nâng cao tay nghề. Việc đào tạo thường gắn với điều kiện là những nhân viên này khi kết thúc khóa đào tạo phải quay lại làm việc cho công ty đã gửi họ đi trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên khi mà một trong số những người được đào tạo từ chối quay lại làm việc theo cam kết và vụ việc được đưa ra xét xử tại cơ quan tòa án có thẩm quyền, phía doanh nghiệp thường nắm chắc phần thua nếu người lao động được coi là chấm dứt hợp đồng lao động “đúng luật”.

Không nói đến những tác động tiêu cực về mặt xã hội hoặc kinh tế mà hiện tượng trên gây ra, bài viết này tập trung phân tích ý kiến hoặc quyết định của các cơ quan nhà nước hữu quan như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (qua công văn trả lời cho doanh nghiệp về vấn đề bồi thường chi phí đào tạo) hoặc tòa án (qua các phán quyết có lợi cho người lao động trên thực tế) dưới góc độ quy định luật pháp hiện hành.

Ai đúng, ai sai?

Công văn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và phán quyết của cơ quan tòa án thường dẫn chiếu một cơ sở pháp lý duy nhất: điều 13 Nghị định số 44 của Chính phủ ngày 9/5/2003. Cụ thể điều 13 quy định như sau: “Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9-1-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung”.

Điều 37 của Bộ luật Lao động quy định về lý do và thời hạn báo trước trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Chấm dứt hợp đồng lao động “đúng và đầy đủ” có nghĩa là chấm dứt hợp đồng (i) với đúng lý do mà Bộ luật Lao động đưa ra và (ii) báo trước cho doanh nghiệp trong khoảng thời gian tối thiểu mà Bộ luật Lao động yêu cầu. Với trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn thì Bộ luật Lao động liệt kê ra một số lý do để người lao động có thể dựa vào đó mà chấm dứt và đưa ra thời hạn thông báo [tối thiểu] là 30 ngày. Người lao động ký kết hợp đồng không xác định thời hạn thì không cần viện dẫn đến bất cứ lý do nào mà chỉ cần thông báo về quyết định của mình 45 ngày trước ngày chính thức nghỉ là được.

Tuy nhiên, nếu dựa vào ngôn ngữ chính xác của điều 13, Nghị định 44 thì điều khoản này dẫn chiếu tới (hoặc giới hạn lại) việc bồi thường chi phí đào tạo theo “quy định tại khoản 4 điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9/1/2001”. Điều khoản được dẫn chiếu tại Nghị định 02 đề cập đến trường hợp doanh nghiệp “tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp” và “nếu người học nghề không làm việc theo cam kết thì phải bồi hoàn chi phí dạy nghề theo mức do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng học nghề”.

Đến đây dường như có hai vấn đề pháp lý mà các cơ quan hữu quan chưa bao quát hết, đó là phạm vi áp dụng của điều 13 (Nghị định 44) và hiệu lực pháp lý của chính nghị định này trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam. Cụ thể là:

Về phạm vi áp dụng của điều 13 Nghị định 44

Như đã phân tích sơ bộ, dường như việc bãi bỏ trách nhiệm bồi thường của người lao động được đào tạo chỉ bó hẹp trong trường hợp doanh nghiệp “tuyển [dụng] người vào học nghề”. Như vậy, người lao động chỉ được miễn bồi hoàn chi phí đào tạo nếu họ được tuyển vào học nghề lúc ban đầu và chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa là người lao động hiện đang làm việc cho doanh nghiệp (cụ thể là đã ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp và đã làm việc được một thời gian) và được cử đi đào tạo (cho mục đích nâng cao tay nghề) thì sẽ không rơi vào điều 13.

Tương tự, điều 13 Nghị định 44 chỉ đề cập đến việc bồi thường chi phí đào tạo trong việc “học nghề”. “Học nghề” đứng từ góc độ người lao động và “dạy nghề” đứng từ góc độ người sử dụng lao động có mục tiêu là người học nghề “có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” (điều 5 của Luật Dạy nghề).

Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì hoạt động dạy và học nghề về bản chất sẽ khác với việc nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp. Lấy ví dụ, nếu một doanh nghiệp tài trợ một khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật cho một hoặc nhiều kỹ sư của mình theo diện nâng cao trình độ nghề nghiệp thì sẽ không rơi vào phạm vi áp dụng của điều 13 Nghị định 44.

Về hiệu lực pháp lý của điều 13 Nghị định 44

Nghị định 44 được ban hành ngày 9/5/2002 và điều 13 của Nghị định 44 dẫn chiếu cụ thể đến Nghị định 02 ngày 9/1/2001. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này Nghị định 02 đã không còn hiệu lực pháp lý nữa do bị thay thế bởi Nghị định 139 ngày 20/11/2006. Có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định 139 về vấn đề học nghề là Luật Dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006.

Đáng lưu ý là cả hai văn bản này đều yêu cầu “Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp, nếu người học nghề không làm việc theo cam kết thì phải bồi hoàn chi phí dạy nghề. Mức bồi hoàn do hai bên thỏa thuận theo hợp đồng học nghề” mà không đặt ra bất cứ điều kiện nào để miễn trách nhiệm bồi thường cho người được đào tạo.

Rõ ràng là có sự không nhất quán về trách nhiệm bồi thường quy định tại điều 13 của Nghị định 44 với Nghị định 139 và Luật Dạy nghề. Trong trường hợp này, điều 13 của Nghị định 44 sẽ không còn được áp dụng do mâu thuẫn với các văn bản ban hành sau và có hiệu lực pháp lý bằng (Nghị định 39) hoặc cao hơn (Luật Dạy nghề). Như vậy quy định về loại trừ trách nhiệm bồi thường tại điều 13 chỉ có giá trị áp dụng cho đến trước khi Nghị định 139, hoặc chặt chẽ hơn, cho đến khi Luật Dạy nghề được ban hành.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng người lao động, trong mọi trường hợp, sẽ phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động nếu đã có thỏa thuận như vậy với người sử dụng lao động.

Giải pháp nào cho doanh nghiệp?

Trong thời điểm này, khi Bộ luật Lao động cũ vẫn được áp dụng và cách hiểu về việc áp dụng điều 13 của Nghị định 44 vẫn còn thiếu sự nhất quán, doanh nghiệp cần thận trọng khi thỏa thuận về việc đào tạo với người lao động. Một số giải pháp có thể xem xét là:

- Ký kết hợp đồng đào tạo độc lập: Việc đào tạo cần được thiết lập một cách chi tiết dưới hình thức một văn bản riêng rẽ và độc lập với hợp đồng lao động. Trong đó, xác định rõ các cam kết mà người lao động phải thực hiện trong và sau khi được đào tạo cũng như các chi phí liên quan đến việc đào tạo mà người lao động phải thanh toán nếu vi phạm các cam kết này. Hợp đồng đào tạo cũng cần chỉ rõ loại hình đào tạo là nâng cao tay nghề hay là học nghề.

- Xác định loại hợp đồng lao động: Để phòng xa, doanh nghiệp khi ký hợp đồng đào tạo song song với ký hợp đồng lao động lần đầu cần cân nhắc thời hạn của hợp đồng lao động. Nên ký hợp đồng lao động có thời hạn (được gia hạn một lần với thời hạn tối đa là 36 tháng) hơn là ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Lý do là theo Bộ luật Lao động, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn của người lao động sẽ khó khăn hơn so với hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Ngay cả khi hợp đồng lao động lần thứ nhất kết thúc mà chưa hết thời hạn cam kết trong hợp đồng đào tạo thì người lao động về mặt nguyên tắc vẫn phải ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn lần thứ hai.

Chúng tôi cũng lưu ý là Bộ luật Lao động không hạn chế cụ thể việc chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn đã ký kết và chuyển sang hợp đồng lao động xác định thời hạn. Tuy nhiên, để tình trạng giải thích luật không nhất quán, việc chấm dứt này cần được thực hiện dưới hình thức là một văn bản thỏa thuận riêng rẽ giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Theo đó người sử dụng lao động sẽ thanh toán đầy đủ các chế độ cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động về chấm dứt hợp đồng lao động.

(Theo LS. Ngô Quang Thụy // TBKTSG)

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/chi-phi-dao-tao-ai-se-tra-46221/


10. Đào tạo: Chi phí hay đầu tư?

Nguồn nhân lực trong công ty không phải là con số tĩnh tại, mà luôn biến động theo thời gian. Dòng chảy nhân tài luôn vận động theo quy luật của nó, trong khi doanh nghiệp luôn cần có đội ngũ nhân viên đủ lớn, đủ năng lực để thực hiện và hoàn thành mọi công việc đang chờ đợi phía trước. Và đấy chính là điểm khởi đầu cho việc lập ngân sách đào tạo hằng năm.

Thường thì cứ đầu năm mới, các doanh nghiệp xác lập ngân sách đào tạo nhân viên để sử dụng trong cả năm. Ngân sách này được lập theo một quy trình nhất định tùy theo chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của từng doanh nghiệp.

Các công ty thường phải thực hiện bước đi mang tên “Phân tích nhu cầu đào tạo” để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và ngân sách đào tạo, nhưng đôi khi cũng có tình huống cá biệt.

Câu chuyện sau đây được tóm tắt từ internet có tiêu đề là Xem sai lầm của nhân viên như là dịp đào tạo của tác giả Byron Kalies là một trong những trường hợp cá biệt đó.

Có một nhân viên bán hàng năng lực thuộc loại giỏi nhưng đã phạm phải một sai lầm tệ hại. Trong tính toán dự trữ hàng hóa cho mùa lễ hội, anh đã mua một lượng trái cây tươi quá lớn vì nghĩ là sẽ đem được khoản tiền lời không nhỏ về cho công ty.

Thế nhưng, do ước lượng sai, đến khi lễ hội tàn, anh ta làm cho công ty chết dở vì còn tồn đọng nhiều tấn trái cây đang chảy nước và hư thối.

Hết mùa lễ hội, nhân viên ấy đến văn phòng làm việc và bắt đầu bằng việc sắp xếp gọn giấy má trên bàn rồi lau chùi sạch sẽ mặt bàn. Sau đó, anh ta tiếp tục những công việc lặng lẽ, chờ đợi một bước ngoặt lớn sắp diễn ra với mình.

Rồi chuông điện thoại vang lên: “Anh có thể dừng công việc đến gặp tôi ngay không?”. Đó là cú điện thoại của một giọng nữ - cấp trên trực tiếp của anh ta. “Dạ, tôi đến ngay!” - anh ta đáp.

Sau khi hối hả tiến thẳng đến phòng làm việc của sếp, anh ta bước vào phòng, chào người sếp và nói ngay: “Tôi biết là tôi đã phạm sai lầm lớn. Tôi xin lỗi chị và đã viết đơn xin nghỉ việc”.

Vừa nói, anh ta vừa đặt lá đơn lên mặt bàn. Sếp cầm lấy lá đơn, đọc lướt qua rồi… xé nó làm đôi, lại gấp lại và xé đôi nó thêm một lần nữa. Sau đó, bà vo viên, ném nó vào sọt rác dưới gầm bàn.

“Hôm nay trông anh buồn cười quá” - sếp nói - “Công ty chúng ta đã tốn mấy trăm triệu đồng chi phí đào tạo cho anh lần này đấy. Anh hết cách bỏ chạy rồi. Phải ở lại cố gắng kiếm cách bù đắp cho đủ chi phí đào tạo ấy rồi sau đó công ty mới giải quyết nguyện vọng của anh”.

Đó là một tình huống mà ngân sách đào tạo không được lập kế hoạch từ trước. Nó chỉ lóe lên trong đầu sếp khi người ấy đối diện với một sai lầm lớn của nhân viên dưới quyền và cũng đối diện với lòng tự trọng đang dày vò nhân viên đó.

Nhưng ứng xử này không hề ngẫu hứng, mà có chủ ý rõ ràng. Sếp đã biết “bài học” mà người nhân viên vừa thu được quả là quá lớn, nhưng có vẻ như “chi phí đào tạo” ấy vẫn hợp lý vì sếp tin là sau “khóa đào tạo” như vậy, nhân viên của mình sẽ trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và tiếp tục mang lại nhiều thành công hơn cho công ty.

Quay lại chuyện lập ngân sách đào tạo. Khi tiến hành “Phân tích nhu cầu đào tạo” thì đó cũng chính là dịp để công ty nắm vững nội dung thật sự cần đào tạo cho đội ngũ nhân viên, từ đó xây dựng ngân sách đầu tư thỏa đáng để nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên, giúp họ đủ sức hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà công ty giao phó.

Chi phí để phân tích nhu cầu đào tạo xem ra không đáng kể nếu so với chi phí đào tạo cho trường hợp ngoại lệ như câu chuyện vừa kể trên. Trên thực tế, khi chưa thấy cần thiết phải làm thì đến khi gặp trường hợp đặc biệt, “chi phí đào tạo” tính theo trường hợp ngoại lệ như vậy lại quá cao.

Như vậy, vấn đề là nên đầu tư cho công tác đào tạo năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên theo hướng nào. Đó là việc mà mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn và quyết định.

Nguồn nhân lực trong công ty không phải là con số tĩnh tại, mà luôn biến động theo thời gian. Dòng chảy nhân tài luôn vận động theo quy luật của nó, trong khi doanh nghiệp luôn cần có đội ngũ nhân viên đủ lớn, đủ năng lực để thực hiện và hoàn thành mọi công việc đang chờ đợi phía trước. Và đấy chính là điểm khởi đầu cho việc lập ngân sách đào tạo hằng năm.

Nguồn: http://tailieunhansu.com/diendan/f558/dao-tao-chi-phi-hay-dau-tu-78241/